Kỷ niệm 260 năm ngày sinh Đại thi hào Nguyễn Du, nếu làm một thống kê số học, hành trình 55 năm cuộc đời của ông chỉ vỏn vẹn vài ba nét gạch đầu dòng lý lịch trích ngang, nhưng đó là hành trình của một tâm hồn trĩu nặng yêu thương, của một con người luôn gắn bó tình đời, tình người sâu sắc.
1.Cuộc đời của Nguyễn Du tuy chỉ có 55 năm (1765 -1820) nhưng di sản văn học để lại cho đời là vô giá. Năm 1965, Hội đồng Hòa bình thế giới tổ chức kỷ niệm 200 năm năm sinh Danh nhân văn hóa Nguyễn Du. Năm 2013, Tổ chức UNESCO của Liên hợp quốc có nghị quyết tổ chức kỷ niệm 250 năm năm sinh Nguyễn Du vào năm 2015.

Gia đình Nguyễn Du có truyền thống học hành, khoa bảng. Thân phụ và anh cả của ông cùng là tiến sĩ, cùng làm tể tướng dưới triều Hậu Lê. Nhiều người khác làm quan, làm thầy thuốc, dạy học, nghiên cứu địa lý, kinh dịch... Riêng Nguyễn Du có những thăng trầm! 10 tuổi ông mất cha, 13 tuổi mất mẹ, phải sống dựa vào các anh Nguyễn Khản, Nguyễn Điều và đến 15 tuổi sang Hải An, Thái Bình ở nhà ông Đoàn Nguyễn Thục, đồng liêu của cha và anh, sau này thành cha vợ Nguyễn Du.
Thử làm một “thống kê”, ta thấy Nguyễn Du từng ở rất nhiều vùng không gian mà thơ ông đề cập. Dấu chân ông in từ Lạng Sơn vào Huế. Ông giao tiếp với rất nhiều hạng người. Từ nhỏ ông còn được các vị quan to như Hoàng Ngũ Phúc thân tình tặng kiếm. Nguyễn Du tiếp xúc với nhiều tăng ni, Phật tử và hiểu biết về Thiền, rồi ông đi sứ cũng tiếp xúc với nhiều đại sứ nước ngoài, được diện kiến vua Thanh.., nhưng hơn hết ông đã được gặp gỡ với rất nhiều người dân lao động trên cuộc hành trình tự nguyện ấy. So với người cùng thời, Nguyễn Du đã có được một vốn kiến văn cực kỳ phong phú để bổ trợ cho những công trình của cuộc đời.
2. Vì thế, tiếng thơ của Nguyễn Du là những tiếng đồng cảm sâu sắc với số phận, kiếp người. Đặc biệt, Nguyễn Du nhiều lần viết về người phụ nữ và dành nhiều cảm thông cùng nỗi yêu thương. Nếu không có sự cảm thông sâu sắc này, ông không thể xây dựng được một nàng Kiều với đầy đủ cung bậc thống khổ của thân phận nữ nhân. Đó là nỗi khổ của một phụ nữ phải cắt đứt mối duyên đầu, nỗi khổ phải bán mình chuộc cha, nỗi khổ tưởng lấy được chồng hóa ra lại thất thân vào một tay lừa đảo, nỗi khổ của người phải hai lần vào chốn phong trần, hai lần đi tu, nỗi khổ phải làm con ở, nàng hầu, vợ lẽ, bị đánh ghen tàn nhẫn, nỗi khổ lấy chồng rồi lại giết chồng…
Nguyễn Du đã nói tới những vất vả đau thương của con người trong kiếp phong trần bằng một tổng kết đầy trắc ẩn: “Bắt phong trần phải phong trần/ Cho thanh cao mới được phần thanh cao”. Đây cũng là một trăn trở nhiều bế tắc, có điều tác giả viết rất hay, rất sâu nên rung động lòng người. Đọc Truyện Kiều, hầu như ai cũng bắt gặp một chút thân phận mình trong đó nên tác phẩm của Nguyễn Du được người đời sùng kính, được đưa ra để giải đáp, để bói như là một cách giải quyết những ẩn ức của mình. Chính vì thế mà có học giả đã nhận xét rằng: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn”.
3. Nhiều thế hệ người Việt Nam đọc Truyện Kiều đều rất chú ý tới nhận định của các học giả trong và ngoài nước, đánh giá ở những bộ từ điển nổi danh, nhưng có thể ít người biết tới lời đề từ cho tác phẩm này của Đoàn Nguyễn Tuấn, người đồng thời là anh vợ của Nguyễn Du, một trong những người có ảnh hưởng đến ông. Lời đề từ rất súc tích: “Từ đàn lệ ngữ/ Duyên các kiều tình/ Kiến kiếm bất kiến nhân/ Thần hồ kỳ hĩ/ Thái hoa nhường mật/ Tân khổ vi thùy/ Thi phong khởi ngữ/ Diệc lãnh đố ngữ” (Lời đẹp chốn văn đàn/ Tình hay nơi khuê các/ Thấy kiếm chẳng thấy người/ Thần kỳ như võ thuật/ Hái hoa để ủ mật/ Khổ sở biết vì ai/ Cất lời văn nổi gió/ Đố kỵ phải chịu lơi” (Nguyễn Tiến Đoàn dịch).
Truyện Kiều mang tính nhân loại rộng lớn bởi con mắt và tấm lòng tác giả “khi hướng tới các khát vọng hòa bình, chủ nghĩa nhân văn, quyền con người, giá trị gia đình, yêu cầu bình đẳng giới và truyền thống văn hóa Việt” như lời bình luận của bà Katherine Muler Marin, Trưởng Đại diện UNESCO tại Việt Nam, phát biểu trong lễ kỷ niệm 250 năm ngày sinh cụ Nguyễn Du. Truyện Kiều đã trở thành một của tin, lòng tin, như cách một vị Tổng thống Mỹ khi trích đọc câu thơ “Của tin gọi một chút này làm ghi”.
Cả thế giới đều biết Nguyễn Du - Tố Như là một danh nhân văn hóa tầm nhân loại. Đóng góp của Nguyễn Du về văn hóa không chỉ trong phạm vi Việt Nam mà còn có sức lan tỏa rộng lớn. Ở Việt Nam, Truyện Kiều của Nguyễn Du được dạy trong nhiều cấp học, được dùng để hát, để lẩy, để đố, để bói bởi khả năng khái quát cao, có thể vận dụng trong đời sống hàng ngày. Truyện Kiều được dựng kịch, dựng phim, dựng tiểu phẩm nghệ thuật. Ngôn ngữ trong Kiều được chuyển tải khắp nơi, không chỉ lớp người cao tuổi mà thanh niên Việt cũng rất mến mộ, đặc biệt vận dụng ngôn ngữ vào sinh hoạt thường nhật. Trên thế giới, các nguyên thủ quốc gia khắp nơi đến Việt Nam đều mượn Kiều như một thông điệp kết nối nhằm tạo nên những hòa hợp, giao cảm.
Hành trình của Nguyễn Du là hành trình của một tâm hồn trĩu nặng yêu thương, của một con người luôn gắn bó tình đời, tình người sâu sắc. Tiếng thơ Nguyễn Du “lay động đất trời” là “lời non nước”, “lời ngàn thu”, là “tiếng thương”, là “tiếng mẹ ru”… như cách nói của nhà thơ Tố Hữu. Cho nên, thơ Nguyễn Du mới có một sức sống mãnh liệt và tràn trề như thế. Nhưng, để có được những đóng góp cho muôn đời như thế, Nguyễn Du đã phải ký thác đời mình để có thể rút cạn cho thơ. Xin lấy một câu thơ của thi sĩ Tản Đà diễn tả cho nhận xét này: “Đường xa, gánh nặng, trời chiều/ Cơn giông, biển lớn, mái chèo, thuyền nan!" Chấp nhận hành trình này và Nguyễn Du đã trở thành của chúng ta, vĩnh viễn trường tồn.
HOÀNG KHÔI, Hội Kiều học Việt Nam