(ĐTTCO) - Thế giới đã hình thành nhiều khung chiến lược phát triển kinh tế số (KTS). Việt Nam, ngay cả khi đi sau, hoàn toàn có thể “đón đầu” nếu biết khai thác đúng lợi thế và áp dụng phương pháp đo lường phù hợp.

Phát triển kinh tế số, lợi thế 'đi tắt đón đầu'
Phát triển kinh tế số, lợi thế 'đi tắt đón đầu'

Kinh nghiệm quốc tế

Về chiến lược phát triển KTS, các tổ chức quốc tế đã đưa ra nhiều khuyến nghị và khung chiến lược. Đơn cử, World Bank xây dựng chiến lược phát triển KTS cho từng khu vực.

Ở châu Phi là sáng kiến liên quan đến hạ tầng số, khởi nghiệp số, tài chính số và triển khai những sáng kiến này trong cả khu vực công lẫn tư. Mục tiêu là xóa đói giảm nghèo, thúc đẩy tăng trưởng hài hòa và tạo việc làm cho người dân.

Tại nơi hoạt động kinh tế, internet phát triển nhanh hơn như Nam Á và Đông Nam Á, World Bank vẫn nhấn mạnh sáng kiến về hạ tầng số và nền tảng số, nhưng bổ sung yêu cầu quan trọng là phát triển hạ tầng số phải nằm trong khả năng chi trả. Đây là điểm họ khuyến nghị các quốc gia đặc biệt chú trọng.

Xét về chiến lược, nhiều nước đã có định hướng rất rõ ràng. Phần Lan - một trong những quốc gia đi đầu về chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ số vào phát triển dịch vụ, nâng cao chất lượng cuộc sống - chiến lược KTS mang tính tổng thể, bắt đầu bằng nền tảng pháp lý vững chắc.

Khi pháp lý rõ ràng, các hoạt động khác mới phát triển theo. Tiếp đến là năng lực quản trị và huy động nguồn lực. Với rất nhiều công nghệ của CMCN 4.0, nước này chọn lọc những công nghệ cốt lõi, ứng dụng vào giao thông, y tế, năng lượng, tài chính, kinh doanh…

Điểm đặc biệt trong chiến lược của Phần Lan là tạo ra môi trường phát triển chuyên môn và công nghệ từ các trường đại học nghiên cứu, khu vực công-tư cùng tham gia, nơi có các mô hình thử nghiệm (sandbox) để hình thành hệ sinh thái đổi mới.

Phần Lan không đầu tư dàn trải, mà chọn đúng những hạ tầng then chốt, sau đó tập trung nguồn lực vào KTS nền tảng và dịch vụ. Đây là bài học đáng tham khảo cho Việt Nam.

Còn Hàn Quốc, nơi đặt trụ sở của nhiều tập đoàn lớn như Samsung, LG, giai đoạn trước chú trọng mạnh vào sản xuất phần cứng. Tuy nhiên, khi thị trường nội địa phải cạnh tranh với các tập đoàn Mỹ, nước này nhận ra cần chuyển dịch dần từ phần cứng sang phần mềm và dịch vụ. Họ chuyển trọng tâm từ KTS lõi sang KTS ngoài lõi, phát triển hệ sinh thái dịch vụ số.

Đặt mục tiêu trở thành quốc gia dẫn đầu, Hàn Quốc thiết kế khung chiến lược gồm nhiều trụ cột: năng lực số, phát triển KTS, tích hợp số, chính quyền số, văn hóa đổi mới sáng tạo… Họ nhấn mạnh đổi mới sáng tạo phải bắt đầu từ khu vực tư nhân và các trường đại học, nơi cung cấp nguồn nhân lực cùng tri thức.

Malaysia cũng có chiến lược KTS với mục tiêu rõ ràng, từ đó xác định các trụ cột cụ thể. Bài học từ nước này là chia vùng phát triển, vùng nào mạnh về kinh tế lõi thì tập trung vào lõi, các vùng khác thiên về dịch vụ và kinh tế ngoài lõi.

Hay Thái Lan, từng học hỏi mạnh mô hình Hàn Quốc, tập trung phát triển KTS lõi, nhưng nhận ra với năng lực và nguồn nhân lực hiện tại, khó có thể dẫn đầu nếu chỉ bám vào lõi. Gần đây, Thái Lan chuyển trọng tâm sang các lĩnh vực ngoài lõi: nông nghiệp, du lịch, dịch vụ… phù hợp hơn với lợi thế của mình.

Cơ hội nào cho TPHCM?

Là quốc gia đi sau, Việt Nam có thể tận dụng lợi thế “đi tắt đón đầu”, dựa trên điểm mạnh và nguồn lực thực tế. Về đo lường KTS, chúng ta đã có các phương pháp nên không nhất thiết phải tạo thêm phương pháp. Nhìn chung, có hai cách tiếp cận chính là từ dưới lên (bottom-up) và từ trên xuống (top-down).

Bottom-up như Cục Thống kê đang áp dụng, dữ liệu được thu thập từ các ngành và cấp cơ sở, nên rất đáng tin cậy nhưng có độ trễ. Trong khi đó, các địa phương lại có nhu cầu đo lường KTS không chỉ theo năm mà còn theo quý, theo kỳ ngắn hạn.

Do vậy, bottom-up gặp khó trong đáp ứng nhu cầu này. Top-down phù hợp hơn, vì chỉ cần dữ liệu sơ cấp, đặc biệt là sự chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan có thẩm quyền.

Nước ta là một trong những quốc gia có chính sách rất kịp thời, bám sát xu hướng quốc tế về chuyển đổi số. Gần đây, Nghị quyết 57 và Nghị quyết 68 đều nhấn mạnh vai trò kinh tế tư nhân, cho thấy chúng ta đang đi đúng hướng. Đây là cơ sở pháp lý thúc đẩy phát triển công nghệ thông tin và công nghệ mới phát triển nền công nghiệp quốc gia hướng tới chuyển đổi số.

TPHCM - địa phương giữ vai trò đầu tàu, sau hợp nhất Bình Dương và Bà Rịa-Vũng Tàu có cơ cấu kinh tế, lợi thế đã rất khác. Vấn đề đặt ra là làm sao tận dụng được đặc trưng kinh tế của từng vùng: khu vực Bình Dương trước đây có thể tập trung KTS lõi, TPHCM ngoài lõi, và Bà Rịa - Vũng Tàu hưởng lợi từ cả hai. Đây là hướng tiếp cận được đề xuất.

Về phương pháp đo lường, thành phố đã hoàn thành hai bước đầu tiên: xác định hệ số đóng góp của các ngành KTS hóa; hiệu chỉnh hệ số đóng góp. Hai bước còn lại là xác định giá trị đóng góp của ngành KTS vào GRDP, và tính tỷ trọng đóng góp giá trị tăng thêm của ngành KTS trong GRDP. Nhưng để thực hiện, điều kiện tiên quyết là dữ liệu và sự chia sẻ dữ liệu từ các cơ quan có thẩm quyền.

Nghị quyết 57 và Nghị quyết 68 đều nhấn mạnh vai trò kinh tế tư nhân, cho thấy chúng ta đang đi đúng hướng. Đây là chủ trương quan trọng thúc đẩy phát triển công nghệ thông tin và công nghệ mới phát triển nền công nghiệp quốc gia hướng tới chuyển đổi số.

(*) Cùng nhóm nghiên cứu Viện Đô thị thông minh và Quản lý (ISCM) - UEH

ThS. PHẠM NGUYỄN HOÀI (*)