Ngày 13-1, Bộ Tư pháp tổ chức Hội đồng thẩm định độc lập dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về phát triển công dân số.

Xây dựng và triển khai “hệ thống điểm công dân số”
Dự thảo nghị quyết đề xuất cơ chế ghi nhận mức độ tích cực tham gia của công dân trên môi trường số gắn liền với các ưu đãi thiết thực. Dựa trên mức độ tích cực trau dồi kỹ năng số, tham gia dịch vụ công, các giao dịch số khác, công dân sẽ được hưởng thêm các chính sách miễn giảm thuế, phí như miễn 100% phí, lệ phí đối với các thủ tục hành chính cơ bản, thiết yếu, gắn với quyền nhân thân hoặc thủ tục hành chính có tần suất cao; giảm tối thiểu 50% phí, lệ phí đối với các thủ tục hành chính phức tạp, cần nhiều chi phí quản lý.
Dự thảo cũng quy định việc xây dựng và triển khai “Hệ thống Điểm công dân số” gắn với dữ liệu dân cư, danh tính điện tử. Điểm được tính dựa trên cập nhật dữ liệu, tần suất sử dụng dịch vụ số và các đóng góp cho cộng đồng số. Điểm số được gắn với các quyền lợi, ưu đãi về thuế, phí, dịch vụ, thủ tục hành chính, an sinh xã hội.
Ứng dụng VNeID được định hướng phát triển cung cấp các tiện ích nhằm phục vụ tốt nhất cho quyền lợi của người dân, bao gồm: cung cấp “ví điện tử quốc gia” và dịch vụ thanh toán số; cung cấp “chữ ký số cá nhân” an toàn (ký số bằng ứng dụng định danh quốc gia VNeID); cung cấp kho dữ liệu cá nhân; cung cấp “địa chỉ thư điện tử” chính thức cho mỗi công dân; phát triển “mạng xã hội”…
Bảo đảm phù hợp, tuân thủ tuyệt đối Hiến pháp và pháp luật
Tại buổi thẩm định, các thành viên Hội đồng đánh giá cao sự cần thiết ban hành Nghị quyết của Chính phủ về phát triển công dân số để thúc đẩy phát triển công dân số, bảo vệ quyền lợi và nâng cao năng lực số của người dân trong kỷ nguyên số.
Tuy nhiên, bà Mai Thị Thanh Bình, đại diện Bộ KH-CN lưu ý, cần nghiên cứu, cân nhắc kỹ lưỡng việc sử dụng cụm từ “xếp hạng, phân loại công dân” bảo đảm phù hợp, tuân thủ tuyệt đối Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm quyền con người, quyền công dân; rà soát các tiêu chí bảo đảm tính khả thi, công bằng giữa các đối tượng khác nhau về độ tuổi, trình độ, điều kiện kinh tế xã hội... Bên cạnh đó, cần rà soát, bảo đảm đồng bộ, thống nhất các nội dung về chữ ký số, công dân số trong dự thảo nghị quyết với Luật Chuyển đổi số và Luật Giao dịch điện tử.
Liên quan đến Hệ thống chấm điểm công dân số, đại diện Cục Kiểm tra văn bản và Quản lý xử lý văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Tư pháp cho rằng việc quy định về chấm điểm công dân số có thể gây ra những rào cản tâm lý, phản ánh tiêu cực nhất định, do đó có thể cân nhắc chỉ quy định chung về công dân cơ bản khi tham gia dịch vụ công.
Một số ý kiến cho rằng việc phân chia “công dân số” thành các nhóm “tích cực”, “cơ bản” và “phổ thông” để hưởng các mức độ ưu đãi khác nhau cũng có thể dẫn đến sự bất bình đẳng. Những người am hiểu công nghệ sẽ có lợi thế hơn so với những người khác, kể cả trong khu vực công. Do đó, cần chỉnh sửa đảm bảo sự hài hòa giữa việc thụ hưởng quyền lợi và thực hiện nghĩa vụ, giúp người dân có đầy đủ công cụ và hành lang pháp lý để sống và làm việc an toàn, hiệu quả trong kỷ nguyên số.
Tại buổi thẩm định, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú nhấn mạnh yêu cầu làm rõ hơn khái niệm “công dân số”, tránh trùng lắp với các khái niệm đã có; xem xét lại các quy định về nghĩa vụ của công dân, đảm bảo phù hợp và khuyến khích, chứ không phải là bắt buộc. Cùng với đó, cần có cơ sở rõ ràng, cụ thể để phân loại, chấm điểm công dân số, tránh gây tác động tiêu cực; xem xét trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức liên quan, đặc biệt là vai trò của Bộ Tư pháp trong việc rà soát, đề xuất sửa đổi các văn bản pháp luật; mở rộng quyền giám sát của người dân đối với hệ thống thông tin có sử dụng đầu tư công.
Hội đồng thống nhất đánh giá việc xây dựng nghị quyết là cần thiết, nhằm tạo cơ chế khuyến khích phát triển công dân số, thúc đẩy chuyển đổi số trong các hoạt động, đặc biệt là trong hoạt động của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, cơ quan chủ trì cần làm rõ hơn cơ sở pháp lý của chính sách này. Về phạm vi điều chỉnh và các chính sách ưu đãi, cần rà soát kỹ, tránh quy định trùng lặp hoặc can thiệp sâu vào các lĩnh vực đã được luật chuyên ngành điều chỉnh, nhất là các chính sách ưu đãi về thuế, phí, lệ phí.
Đối với chính sách giảm thuế, cần cân nhắc kỹ tính khả thi, tác động thực tế và khả năng thực hiện của hệ thống thuế, bởi đây là vấn đề phức tạp về kỹ thuật và quản lý. Bên cạnh đó, đối với các dịch vụ công trực tuyến, cần phân biệt rõ giữa dịch vụ công bắt buộc và các dịch vụ thương mại điện tử thông thường; tránh việc thiết kế chính sách dẫn đến hạn chế quyền tiếp cận dịch vụ của công dân, hoặc tạo ra sự phân biệt không cần thiết.
ANH PHƯƠNG