Nghị quyết 80-NQ/TW ngày 7-1-2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam không chỉ là sự kế thừa các nghị quyết lớn về văn hóa trước đây, mà còn là bước chuyển mạnh mẽ trong tư duy phát triển. Bằng cách chỉ rõ những vấn đề cốt lõi, đề xuất các đột phá mang tính chiến lược và định hình hệ quả lâu dài, nghị quyết đặt văn hóa vào đúng vị trí nền tảng, động lực và sức mạnh mềm của quốc gia trong kỷ nguyên mới.
Nhận diện thẳng thắn những vấn đề của phát triển văn hóa
Một trong những điểm nổi bật của Nghị quyết 80-NQ/TW là tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng thực trạng văn hóa Việt Nam sau hơn 25 năm triển khai các nghị quyết quan trọng của Đảng về lĩnh vực này. Nghị quyết được ban hành trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, với yêu cầu ngày càng cao trên mọi phương diện đời sống xã hội, đòi hỏi văn hóa không thể đứng ngoài mà phải trở thành trụ cột tinh thần và động lực phát triển.

Trước hết, nghị quyết chỉ rõ hạn chế mang tính nhận thức như vị trí, vai trò của văn hóa trong phát triển đất nước chưa được nhìn nhận một cách toàn diện và sâu sắc. Trong thực tiễn, văn hóa nhiều khi vẫn bị xem là lĩnh vực “phụ trợ”, đi sau kinh tế, chưa thực sự được đặt ngang hàng với các trụ cột khác của phát triển bền vững. Hệ quả là việc thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về văn hóa thành chính sách, pháp luật của Nhà nước còn chậm, thiếu đồng bộ, có mặt chưa tạo được đột phá.
Một vấn đề khác được nghị quyết chỉ ra là môi trường văn hóa chưa thật sự lành mạnh. Đạo đức xã hội có biểu hiện xuống cấp, mất bản sắc; những giá trị tốt đẹp chưa được củng cố vững chắc trong đời sống cộng đồng. Điều này cho thấy khoảng cách giữa chủ trương và thực tiễn, giữa mục tiêu xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc với đời sống văn hóa hàng ngày của xã hội vẫn còn đáng kể.
Việc thống nhất chọn ngày 24-11 hàng năm là Ngày Văn hóa Việt Nam mang ý nghĩa biểu tượng và thực tiễn sâu sắc, góp phần nâng cao nhận thức xã hội và củng cố vai trò của văn hóa trong đời sống quốc gia. Qua đó, Nghị quyết 80-NQ/TW thể hiện một tư duy phát triển nhất quán, coi văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần mà còn là động lực, sức mạnh mềm và hệ điều tiết cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới.
Về nguồn lực, Nghị quyết 80-NQ/TW thẳng thắn nhìn nhận đầu tư cho văn hóa còn thấp và dàn trải, chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước. Trong khi đó, nguồn nhân lực văn hóa tồn tại nhiều bất cập, cơ chế, chính sách chưa phát huy đầy đủ sức sáng tạo của các chủ thể, đặc biệt là đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ. Khoảng cách về mức độ tiếp cận và thụ hưởng văn hóa giữa các vùng, miền, địa phương vẫn còn rõ rệt, đặt ra yêu cầu phải có những giải pháp căn cơ và công bằng hơn.
Những hạn chế đó không chỉ là vấn đề nội tại của lĩnh vực văn hóa, mà còn tác động trực tiếp đến chất lượng phát triển con người, sức mạnh nội sinh của dân tộc và khả năng cạnh tranh mềm của quốc gia trong bối cảnh hội nhập sâu rộng. Chính từ việc nhận diện đầy đủ và nghiêm túc những “điểm nghẽn” này, Nghị quyết 80-NQ/TW đặt nền tảng cho một loạt đột phá mang tính chiến lược.
Đột phá chiến lược đối với phát triển đất nước
Từ thực trạng đã được chỉ rõ, Nghị quyết 80-NQ/TW đặt ra yêu cầu then chốt là phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới phải dựa trên những chủ trương, quyết sách đột phá và đồng bộ nhằm khắc phục hạn chế, chủ động nắm bắt thời cơ, vượt qua thách thức. Văn hóa được xác định phải đi trước soi đường, thấm sâu vào từng quyết sách phát triển, đề cao giá trị nhân văn và chuẩn mực đạo đức xã hội.

Đột phá mang tính tư duy của nghị quyết là khẳng định con người và văn hóa vừa là nền tảng, vừa là nguồn lực nội sinh, động lực to lớn, trụ cột và hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước. Các giá trị văn hóa phải được gắn kết chặt chẽ, hài hòa và thẩm thấu vào toàn bộ đời sống xã hội, từ chính trị, kinh tế, xã hội đến môi trường, quốc phòng, an ninh và đối ngoại, để thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia.
Nghị quyết đồng thời đưa ra cách tiếp cận toàn diện đối với các mối quan hệ nội tại của văn hóa giữa xây và chống, giữa truyền thống và hiện đại, giữa dân tộc và quốc tế, giữa bảo tồn và phát triển, giữa đại chúng và bác học, giữa đời sống thực và không gian số, giữa dữ liệu mở và yêu cầu bảo đảm an ninh, chủ quyền văn hóa số. Đây là những vấn đề cốt lõi thể hiện tầm nhìn chiến lược của nghị quyết trước những biến động nhanh chóng của xã hội hiện đại và quá trình chuyển đổi số.
Trên cơ sở đó, Nghị quyết 80-NQ/TW xác lập những mục tiêu và chỉ tiêu phát triển cụ thể đến năm 2030 nhằm xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng, mang đặc trưng dân tộc, dân chủ, nhân văn, khoa học và hiện đại. Môi trường văn hóa lành mạnh được xây dựng đồng bộ từ gia đình, nhà trường, xã hội đến không gian số, trong khi văn học, nghệ thuật được định hướng phát triển xứng tầm với lịch sử văn hóa dân tộc và tầm vóc đất nước trong kỷ nguyên mới.
100% học sinh, học viên, sinh viên được tiếp cận, tham gia thường xuyên các hoạt động nghệ thuật, giáo dục di sản. Tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hàng năm dành cho văn hóa. Công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP. Hình thành 5-10 thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hóa (điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, du lịch văn hóa, thiết kế, thời trang…). Xây dựng 5 thương hiệu liên hoan, lễ hội nghệ thuật quốc tế.
Công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo đóng góp 9% GDP. Có 10 thương hiệu liên hoan, lễ hội nghệ thuật tầm vóc quốc tế. Việt Nam nằm trong Tốp 3 ASEAN và Tốp 30 thế giới về Chỉ số Sức mạnh mềm quốc gia và giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghiệp văn hóa.
Những đột phá này đặt nền tảng cho việc hình thành hệ thống chỉ tiêu có tính đo lường và khả thi như hoàn thiện thiết chế văn hóa quốc gia, số hóa 100% di sản văn hóa đã được xếp hạng, bảo đảm học sinh, sinh viên được tiếp cận thường xuyên với các hoạt động nghệ thuật và giáo dục di sản, bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hàng năm cho văn hóa và tăng dần theo yêu cầu thực tiễn. Ba lĩnh vực đột phá được ưu tiên gồm đào tạo và đãi ngộ nhân tài văn hóa - nghệ thuật, ứng dụng khoa học - công nghệ và chuyển đổi số, đặt hàng sáng tạo các công trình và tác phẩm có giá trị cao.
Trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa, nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030 các ngành này đóng góp khoảng 7% GDP, hình thành từ 5 đến 10 thương hiệu quốc gia trong các lĩnh vực như điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, du lịch văn hóa, thiết kế và thời trang, xây dựng các thương hiệu liên hoan nghệ thuật và lễ hội văn hóa quốc tế, mở rộng mạng lưới trung tâm văn hóa Việt Nam ở nước ngoài và phấn đấu có thêm các di sản được UNESCO công nhận.
Tầm nhìn đến năm 2045 cho thấy hệ quả dài hạn mà nghị quyết hướng tới là xây dựng nền văn hóa Việt Nam xã hội chủ nghĩa, trong đó con người là trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực của phát triển, các giá trị văn hóa giữ vai trò nền tảng, chuẩn mực và thẩm thấu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Việt Nam được định vị là quốc gia phát triển có thu nhập cao, trở thành điểm đến hấp dẫn của các sự kiện văn hóa nghệ thuật tầm cỡ khu vực và quốc tế, là trung tâm công nghiệp văn hóa sáng tạo năng động với đóng góp khoảng 9% GDP và vị thế cao về sức mạnh mềm.
Ở phương diện thực thi, nghị quyết đề ra hệ thống nhiệm vụ và giải pháp cụ thể, quyết liệt như đổi mới phương thức quản lý văn hóa theo hướng kiến tạo và phục vụ, hoàn thiện thể chế, xây dựng các bộ chỉ số văn hóa quốc gia, thúc đẩy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, phát triển hợp tác công - tư, xây dựng quỹ văn hóa - nghệ thuật, ban hành chính sách đặc thù để phát hiện, đào tạo và trọng dụng tài năng, bảo đảm đãi ngộ xứng đáng cho nghệ nhân và nghệ sĩ, đồng thời thực hiện cơ chế đặt hàng sáng tạo và phổ biến các tác phẩm văn hóa - nghệ thuật có giá trị cao.
PGS-TS, Nhà văn Nguyễn Thế Kỷ, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương