Trong bức tranh xuất khẩu nông sản Việt Nam, doanh nghiệp tư nhân giữ vai trò then chốt trong việc kết nối sản xuất - chế biến - thị trường toàn cầu, nâng cao giá trị cho nông sản Việt và mang về nguồn ngoại tệ lớn cho đất nước. Tuy nhiên, một thực tế đầy áp lực đang diễn ra: Chi phí tài chính ngày càng phình to, trong khi một số quy định thuế, đặc biệt là Nghị định 132/2020/NĐ-CP đang trở thành “nút thắt” khiến nhiều doanh nghiệp xuất khẩu kiệt sức.

Đặc thù của ngành nông sản là luôn phải chịu ảnh hưởng mạnh về giá và phụ thuộc lớn vào vốn vay. Khi giá nguyên liệu tăng cao, doanh nghiệp buộc phải tăng quy mô vốn lưu động để thu mua, dự trữ và đảm bảo đơn hàng xuất khẩu. Những năm gần đây, ngành hàng kinh doanh xuất khẩu nông sản rất khó khăn, biến động rất lớn. Riêng năm 2023 và 2024 kinh doanh khó khăn, có khoảng gần 60% nhà cung cấp biến mất trên thị trường.

Cụ thể, giá cà phê tăng gấp 3,5 lần từ 36.000/kg có lúc lên 135.000/kg và giá tiêu tăng gấp 2 lần từ 88.000/kg lên 185.000/kg đẩy số tiền phải vay lên rất cao. Cùng đó, lãi suất vay ngân hàng cũng tăng , đẩy số tiền trả lãi vay cho ngân hàng rất lớn và để duy trì trả lương, trả thưởng Tết và phát triển. Cùng một sản lượng nhưng hiện tại, các doanh nghiệp phải vay gấp ba lần tiền để xuất khẩu và năm 2025, riêng Phúc Sinh đã phải trả lãi cho ngân hàng đến 161 tỷ đồng.

Trong bối cảnh đó, Nghị định 132/2020/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 05/11/2020 (hiệu lực từ 20/12/2020) quy định về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết, thay thế Nghị định 20/2017/NĐ-CP đang bộc lộ những bất cập khi áp dụng vào thực tiễn doanh nghiệp nội địa. Cụ thể là chi phí lãi vay – vốn là chi phí thực tế và không thể tránh khỏi lại không được tính đầy đủ, khiến thu nhập chịu thuế bị “đội” lên đáng kể. Doanh nghiệp càng khó khăn, càng phải vay nhiều để duy trì sản xuất thì lại càng đối mặt với nghĩa vụ thuế cao hơn.

Trường hợp của Phúc Sinh Group là một ví dụ điển hình.

Năm 2025, sau một năm kinh doanh nhiều thách thức, doanh nghiệp ghi nhận lợi nhuận 77 tỷ đồng.

Theo quy định hiện hành, với mức lợi nhuận 77 tỷ đồng, Phúc Sinh thực hiện nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp theo thuế suất 20%, tương ứng số thuế phải nộp là 11,7 tỷ đồng. Đây là mức thuế phù hợp với Luật Doanh nghiệp và cũng là nghĩa vụ tài chính mà doanh nghiệp đã chủ động tính toán trong kế hoạch kinh doanh.

Tuy nhiên, khi áp dụng quy định tại Nghị định 132/2020/NĐ-CP về khống chế chi phí lãi vay đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết, nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp đã tăng lên đáng kể.

Cụ thể, Nghị định quy định tổng chi phí lãi vay được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế không vượt quá 30% của tổng lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trong kỳ, cộng với chi phí lãi vay (sau khi trừ lãi tiền gửi, lãi cho vay) và chi phí khấu hao.

Nhà máy Phúc Sinh Bình Dương sản xuất cà phê
Nhà máy Phúc Sinh Bình Dương sản xuất cà phê

Cụ thể các chỉ số tài chính của Phúc Sinh được xác định như sau: Lợi nhuận đạt 77 tỷ đồng, chi phí khấu hao là 11,6 tỷ đồng, tổng chi phí lãi vay lên tới 161 tỷ đồng, trong khi lãi tiền gửi tiết kiệm là 10,7 tỷ đồng. Theo công thức của Nghị định 132, mức chi phí lãi vay tối đa được khấu trừ là: 30% × (77 + 11,6 + 161 – 10,7) = 71,7 tỷ đồng.

Trong khi đó, chi phí lãi vay thực tế sau khi trừ lãi tiền gửi là 150,3 tỷ đồng. Như vậy, phần chi phí lãi vay vượt mức cho phép không được khấu trừ là 78,6 tỷ đồng.

Khoản chi phí này bị loại khỏi chi phí hợp lệ và bị tính ngược trở lại vào thu nhập chịu thuế, khiến doanh nghiệp phải nộp thêm 20% thuế trên phần chênh lệch này, tương ứng 15,7 tỷ đồng, nâng tổng nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp lên 27,4 tỷ đồng, tương đương 35,6% lợi nhuận. Một mức thuế thực tế cao gần gấp đôi thuế suất danh nghĩa và theo doanh nghiệp là vượt quá khả năng chịu đựng trong bối cảnh hiện nay.

Theo ông Phan Minh Thông- CEO Phúc Sinh Group: “Phúc Sinh là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và chế biến nông sản xuất khẩu, với gần 100% sản phẩm phục vụ thị trường quốc tế. Trong bối cảnh Việt Nam có khoảng 65% dân số gắn với nông nghiệp, hoạt động của doanh nghiệp không chỉ mang ý nghĩa kinh doanh mà còn góp phần thực hiện các chủ trương lớn về phát triển kinh tế nông nghiệp và thúc đẩy xuất khẩu, mang về nguồn thu ngoại tệ hàng trăm triệu USD mỗi năm.

Trong suốt quá trình phát triển, Phúc Sinh luôn cố gắng xây dựng nhà máy ở các vùng nguyên liệu, để phát triển chất lượng sản phẩm , hỗ trợ bà con nông dân và mang đến sự công bằng cho bà con nông dân trồng trọt. Đồng thời, xây dựng thương hiệu cho các vùng miền và góp phần tạo ra nền sản xuất bền vững”.

Nhà máy Phúc Sinh
Nhà máy Phúc Sinh

Để duy trì hoạt động này, Phúc Sinh buộc phải vay vốn ngân hàng nhằm tài trợ cho việc thu mua nguyên liệu và vận hành hệ thống nhà máy. Các nhà máy đặt tại vùng nguyên liệu cũng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp với mức thuế suất 20%.

Trong bối cảnh đó, việc chi phí lãi vay – vốn là chi phí thực tế, phát sinh từ nhu cầu sản xuất kinh doanh bị khống chế và không được khấu trừ đầy đủ đã tạo ra áp lực lớn về thuế, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động và khả năng tích lũy, tái đầu tư của doanh nghiệp.

Câu chuyện của Phúc Sinh không phải là cá biệt. Trong khi đó, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 68/2025 phát triển kinh tế tư nhân. "Mà muốn phát triển thì các doanh nghiệp tư nhân không thể đóng thuế thu nhập doanh nghiệp đến hơn 35% lợi nhuận doanh nghiệp", ông Thông nhấn mạnh.

Không thể phủ nhận mục tiêu đúng đắn của Nghị định 132 trong việc kiểm soát chuyển giá, tuy nhiên, khi thực thi cần có cách tiếp cận linh hoạt hơn khi áp dụng vào từng nhóm doanh nghiệp. Đối với khu vực sản xuất, đặc biệt là nông sản – nơi phụ thuộc lớn vào vốn vay và chịu rủi ro thị trường cao. Việc áp dụng cứng nhắc một ngưỡng khống chế có thể tạo ra tác động ngược.

Từ thực tiễn này, nhiều doanh nghiệp ý kiến cho rằng cần xem xét điều chỉnh hoặc có cơ chế loại trừ phù hợp đối với doanh nghiệp nội địa, nhằm đảm bảo chính sách thuế vừa đạt mục tiêu quản lý, vừa không trở thành rào cản phát triển.

Trong hành trình nâng cao giá trị nông sản Việt Nam trên thị trường toàn cầu, doanh nghiệp không chỉ cần vốn, công nghệ hay thị trường, mà còn cần một môi trường chính sách đủ linh hoạt và đồng hành. Khi những “nút thắt” như Nghị định 132 chưa được tháo gỡ, áp lực không chỉ dừng lại ở doanh nghiệp, mà còn lan tỏa tới cả chuỗi giá trị nông nghiệp phía sau.

Lữ Ý Nhi