(ĐTTCO) - Ngành cà phê đang tăng tốc xuất khẩu, thu ngoại tệ rất lớn, nhưng nếu đẩy mạnh chế biến sâu chắc chắn sẽ mang lại giá trị cực kỳ cao.

Ngành cà phê đang tăng tốc xuất khẩu, thu ngoại tệ rất lớn, nhưng nếu đẩy mạnh chế biến sâu chắc chắn sẽ mang lại giá trị cực kỳ cao.

Nâng tầm giá trị hạt cà phê Việt bằng cách nào?
Nâng tầm giá trị hạt cà phê Việt bằng cách nào?

Nông dân xã Ia Băng (tỉnh Gia Lai) thu hoạch cà phê niên vụ sản xuất 2025-2026 (ẢNH: ĐỨC TRUNG)

Xuất khẩu năm sau cao hơn năm trước

Theo số liệu từ Bộ NN-MT, nếu như năm 2021 kim ngạch xuất khẩu cà phê đạt khoảng 3 tỷ USD thì đến những năm sau tốc độ tăng nhanh hơn hẳn, khi năm 2025 đạt 9 tỷ USD. Sự tăng trưởng này chủ yếu đến từ giá cà phê thế giới. Cụ thể, năm 2021, giá xuất khẩu bình quân chưa đến 2.000 USD/tấn thì đến năm 2025 đã lên 5.660 USD/tấn, tăng tới 183%.

Còn trong quý I năm nay, xuất khẩu toàn ngành cà phê đạt 577.300 tấn, tăng 12,6% so với cùng kỳ nhưng giá trị chỉ đạt 2,71 tỷ USD, giảm 6,4% so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu đến từ việc giá xuất khẩu bình quân giảm xuống còn 4.696,8 USD/tấn.

Mặc dù xuất khẩu cà phê Việt Nam liên tục lập kỷ lục nhưng tỷ lệ cà phê chế biến sâu hiện mới đạt khoảng 15% tổng sản lượng, phần còn lại vẫn xuất khẩu dưới dạng cà phê nhân xanh.

Theo ông Nguyễn Quốc Mạnh, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ NN-MT), các doanh nghiệp (DN) có vốn đầu tư nước ngoài đang chiếm tỷ trọng lớn trong xuất khẩu cà phê chế biến sâu, trong khi DN trong nước chủ yếu làm trung gian thu mua. Thêm nữa, liên kết chuỗi giá trị còn chưa chặt chẽ.

Nông hộ hiện chiếm khoảng 90% sản lượng nhưng sản xuất nhỏ lẻ, chất lượng chưa đồng đều và thiếu các chứng nhận bền vững. Việc kết nối giữa nông hộ - hợp tác xã - DN chế biến chưa tốt, dẫn đến khó khăn trong việc đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe về truy xuất nguồn gốc, đặc biệt là Quy định Chống mất rừng và suy thoái rừng của Liên minh châu Âu (EUDR).

Nâng tầm giá trị hạt cà phê Việt bằng cách nào?
Nâng tầm giá trị hạt cà phê Việt bằng cách nào?

Nông dân xã Di Linh (tỉnh Lâm Đồng) phơi cà phê sau thu hái niên vụ 2025-2026

Tăng chế biến sâu

Theo đánh giá của một số chuyên gia, sau giai đoạn “tăng nóng”, giá cà phê thế giới có thể bước vào chu kỳ giảm. Vì vậy, yêu cầu cấp thiết là đẩy mạnh chế biến sâu như cà phê rang xay, hòa tan, cà phê viên nén và nâng cao tiêu chuẩn nguyên liệu để phát triển bền vững.

Thực tế tại tỉnh Đắk Lắk, ông Nguyễn Thiên Văn, Phó Chủ tịch UBND tỉnh cho biết, hiện toàn tỉnh Đắk Lắk có hơn 200.000 ha cà phê, sản lượng khoảng 165.000 tấn mỗi năm. Từ lâu, địa phương được xem là “thủ phủ cà phê” của cả nước, với quy mô sản xuất lớn, lịch sử canh tác lâu đời.

Do vậy, tỉnh Đắk Lắk xác định phát triển chế biến sâu là một trong những mũi chiến lược của ngành cà phê. Định hướng là gắn chế biến sâu với vùng nguyên liệu chất lượng cao; đồng thời liên kết thương hiệu DN với thương hiệu địa phương và quốc gia để tối ưu hóa từ hạt cà phê mang lại.

Phân tích về chế biến sâu, ông Thái Như Hiệp, Chủ tịch HĐTV Công ty TNHH Vĩnh Hiệp, chia sẻ, giá 1 kg cà phê nguyên liệu khoảng 100.000 đồng bị cho là cao, trong khi 1 ly cà phê bán với giá khoảng 50.000 đồng lại được người tiêu dùng chấp nhận.

Cần phải biết rằng, 1 kg cà phê nhân cho ra 0,8 kg rang xay, khối lượng này pha được 40 ly cà phê. “Câu chuyện này lý giải vì sao ngành cà phê Việt Nam cần phải đẩy mạnh chế biến sâu”, ông Hiệp khẳng định.

Vậy chế biến sâu bằng cách nào? Ông Nguyễn Thành Tài, Ủy viên Ban Chấp hành Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam (Vicofa) mô tả về cách làm đơn giản từ các quán bán cà phê: chi phí đầu tư, máy rang xay có mức giá từ 30 đến hơn 300 triệu đồng.

Nhưng khi mở rộng sang các khâu rang xay, hòa tan, chiết xuất hoặc sản xuất nguyên liệu đồ uống, DN sẽ hình thành cấu trúc đa tầng. Để làm được vấn đề này, DN càng buộc phải đầu tư bài bản cho vùng trồng, khâu sơ chế, logistics và hệ thống dữ liệu.

Bên cạnh đó, chế biến sâu còn mở ra dư địa phát triển kinh tế tuần hoàn trong ngành cà phê. “Chế biến phải đầu tư vốn liếng khá lớn, nhưng đó là con đường tất yếu để ngành cà phê Việt Nam phát triển bền vững”, ông Nguyễn Thành Tài khẳng định.

Theo ông Trịnh Đức Minh, Chủ tịch Hiệp hội Cà phê Buôn Ma Thuột, khoảng 70% sản lượng cà phê ở nước ta hiện vẫn vận hành theo phương thức truyền thống, thiếu dữ liệu truy xuất đầy đủ các yêu cầu quốc tế mới như EUDR buộc ngành cà phê phải minh bạch toàn bộ chuỗi cung ứng, từ vùng trồng đến xuất khẩu.

Việc xây dựng hệ thống tiêu chuẩn chất lượng gắn với dữ liệu và truy xuất trở thành điều kiện bắt buộc để ngành cà phê Việt Nam đứng vững trên thị trường quốc tế.

10 DN hàng đầu chiếm tới 85,3% thị phần kim ngạch xuất khẩu mảng cà phê chế biến của Việt Nam là những doanh nghiệp FDI: "quán quân" là Nestlé Việt Nam, một mình chiếm 22,5% thị phần, tiếp đó là Outspan Việt Nam (14,6%) và Iguacu Việt Nam (9,4%), Sucafina Việt Nam, URC Việt Nam, ILD Coffee Việt Nam, Tata Coffee Việt Nam, Instanta Việt Nam...

Một ít thị phần còn lại là những DN trong nước như Phúc Sinh Group, Trung Nguyên Legend, Vinacafe Biên Hòa… Đặc biệt, tại thị trường trong nước, mức tiêu thụ cà phê bình quân đầu người tăng từ 1,7 kg năm 2015 đã lên 3 kg vào năm 2026.

Đức Trung