(ĐTTCO)-ĐTTC có cuộc trao đổi với GS.TS Trần Thọ Đạt, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo - Đại học Kinh tế Quốc Dân.

Ngày 26-5 tới đây, Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương, đồng chủ trì với Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và Hội đồng Lý luận Trung ương, tổ chức Hội thảo khoa học quốc gia với chủ đề “Đổi mới mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số”, tại Hải Phòng. Trước thềm hội thảo, ĐTTC có cuộc trao đổi với GS.TS Trần Thọ Đạt, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo - Đại học Kinh tế Quốc Dân.

GS.TS TRẦN THỌ ĐẠT
GS.TS TRẦN THỌ ĐẠT

PHÓNG VIÊN: - Giáo sư đánh giá như thế nào về vai trò của kinh tế số (KTS) trong việc tạo ra động lực tăng trưởng mới cho Việt Nam?

GS.TS TRẦN THỌ ĐẠT: - KTS chắc chắn là một động lực rất quan trọng. Tuy nhiên, không nên hiểu theo nghĩa hẹp KTS chỉ là thương mại điện tử, thanh toán số, nền tảng số hay các ứng dụng công nghệ mới.

KTS thay đổi theo cách nền kinh tế tạo ra giá trị. Dữ liệu trở thành nguồn lực sản xuất mới. AI làm thay đổi phương thức ra quyết định, tổ chức sản xuất, quản trị doanh nghiệp (DN) cung cấp dịch vụ. Tóm lại công nghệ số giúp giảm chi phí giao dịch, mở rộng thị trường, kết nối cung - cầu, nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực, tạo ra mô hình kinh doanh mới.

Nhưng nếu dừng ở “số hóa” các hoạt động hiện có, thì tác động không đủ lớn. Có nghĩa đưa sản phẩm lên sàn thương mại điện tử là chưa đủ. Vấn đề sâu hơn là DN có dùng dữ liệu để hiểu thị trường, dùng AI để tối ưu chuỗi cung ứng, cải tiến sản phẩm, nâng được năng suất và giá trị gia tăng không.

Cần nhìn KTS như một cấu phần của mô hình tăng trưởng mới. Không chỉ tạo thêm ngành nghề mới, KTS làm thay đổi nền tảng vận hành của các ngành hiện hữu, từ công nghiệp, nông nghiệp, đến tài chính, logistics, giáo dục, y tế và dịch vụ công.

DN cần ứng dụng AI để tối ưu chuỗi cung ứng, cải tiến sản phẩm, nâng năng suất và giá trị gia tăng.
DN cần ứng dụng AI để tối ưu chuỗi cung ứng, cải tiến sản phẩm, nâng năng suất và giá trị gia tăng.

- Giáo sư có thể nói rõ hơn KTS đang thay đổi cấu trúc tăng trưởng như thế nào?

- Trong mô hình tăng trưởng mới, lợi thế cạnh tranh phải đến từ tài sản vô hình: dữ liệu, thương hiệu, công nghệ, năng lực thiết kế, năng lực sáng tạo, khả năng quản trị và chất lượng nguồn nhân lực. Khi nền kinh tế dựa nhiều hơn vào tri thức và công nghệ, giá trị gia tăng không còn nằm chủ yếu ở khâu sản xuất vật chất đơn giản, mà nằm ở thiết kế, nghiên cứu - phát triển, phân tích dữ liệu, sở hữu trí tuệ, nền tảng công nghệ và năng lực tổ chức thị trường.

Chúng ta cần chuyển từ “tham gia chuỗi giá trị” sang “tạo giá trị cao hơn trong chuỗi”. Nếu KTS, AI và đổi mới sáng tạo giúp DN trong nước nâng tỷ lệ nội địa hóa, nâng hàm lượng công nghệ, nâng năng suất và giữ lại nhiều giá trị trong nước hơn, đó mới là đóng góp thực chất cho mô hình tăng trưởng mới.

- Nhiều ý kiến cho rằng AI, bán dẫn và dữ liệu sẽ quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia. Theo giáo sư Việt Nam đang ở đâu trong cuộc đua này?

- Việt Nam có thuận lợi: quy mô thị trường đang tăng, dân số trẻ, khả năng tiếp nhận công nghệ nhanh, đội ngũ kỹ sư công nghệ thông tin khá tốt, cộng đồng DN công nghệ năng động… Cơ hội có, nhưng cơ hội không tự chuyển hóa thành lợi thế cạnh tranh.

Trong khi đó hạn chế lại nhiều: Năng lực R&D của DN mỏng. Số DN làm chủ công nghệ lõi chưa nhiều. Liên kết giữa Nhà nước - Viện, Trường - DN chưa hiệu quả. Thị trường vốn cho đổi mới sáng tạo, vốn mạo hiểm, tài chính cho công nghệ cao còn hạn chế. Cơ chế chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm và thương mại hóa công nghệ chưa đủ mạnh.

Định hướng chính sách đã đặt khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào trung tâm mô hình tăng trưởng mới. Nhưng điều quyết định là thực thi. Chỉ nói về AI, bán dẫn hay dữ liệu như những khẩu hiệu, quyết tâm sẽ không tạo ra thay đổi. Phải biến các lĩnh vực này thành năng lực sản xuất, năng lực quản trị và năng lực cạnh tranh thực sự của nền kinh tế.

- Nói như vậy vẫn có rào cản lớn nhất với đổi mới sáng tạo và KTS ở Việt Nam?

- Rào cản lớn nhất không chỉ ở công nghệ, mà ở thể chế và cách thức tổ chức nguồn lực. Công nghệ phát triển nhanh hơn thể chế. Các mô hình kinh doanh mới, nền tảng số, fintech, AI, dữ liệu, tài sản số, dịch vụ xuyên biên giới… đều đặt ra những vấn đề pháp lý mới.

Khi thể chế đi chậm, DN sẽ không dám thử nghiệm, nhà đầu tư không dám rót vốn, cơ quan quản lý thì lúng túng giữa kiểm soát rủi ro và thúc đẩy sáng tạo. Rào cản nữa là tư duy quản lý thiên về tiền kiểm, xin - cho và sợ sai. Còn đổi mới sáng tạo luôn có rủi ro.

Không có cơ chế chấp nhận rủi ro có kiểm soát, rất khó khuyến khích DN, viện nghiên cứu, trường đại học và các nhà khoa học theo đuổi các dự án có tính đột phá. Cần chuyển tư duy “quản lý để tránh sai” sang “kiến tạo để tạo giá trị”. Nhà nước vẫn phải kiểm soát rủi ro, nhưng không kìm hãm sáng tạo. Thể chế tốt không phải là thể chế không có rủi ro, mà là thể chế cho phép thử nghiệm, đo lường, điều chỉnh và mở rộng những mô hình hiệu quả.

Nếu chậm tham gia phát triển công nghệ các DN bỏ lỡ chu kỳ tăng trưởng mới.
Nếu chậm tham gia phát triển công nghệ các DN bỏ lỡ chu kỳ tăng trưởng mới.

- Nếu thể chế tiếp tục đi chậm, Việt Nam sẽ đối mặt nguy cơ gì?

- Nguy cơ lớn nhất là bỏ lỡ chu kỳ tăng trưởng mới. Quốc gia nào chuẩn bị tốt về thể chế, nhân lực, hạ tầng và năng lực DN sẽ tận dụng được cơ hội. Quốc gia nào chậm sẽ bị đẩy xuống các tầng thấp hơn trong chuỗi giá trị.

Thể chế đi chậm, DN Việt có thể mất cơ hội ngay trên sân nhà. Còn các mô hình mới sẽ do nền tảng nước ngoài dẫn dắt. Dữ liệu, thị trường, hành vi tiêu dùng của Việt Nam có thể thành nguồn lực cho DN bên ngoài khai thác, còn DN trong nước chỉ tham gia ở khâu giá trị thấp và nguy cơ chảy máu nhân lực.

Thể chế không chỉ là khung quản lý mà là một loại hạ tầng phát triển. Thể chế tốt sẽ mở đường cho đổi mới sáng tạo. Thể chế chậm sẽ trở thành điểm nghẽn của tăng trưởng.

- Xin cám ơn Giáo sư.

Định hướng chính sách đã đặt khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào trung tâm mô hình tăng trưởng mới. Nhưng điều quyết định là thực thi. Rào cản lớn nhất không chỉ ở công nghệ, mà ở thể chế và cách thức tổ chức nguồn lực. Công nghệ phát triển nhanh hơn thể chế. Các mô hình kinh doanh mới, nền tảng số, fintech, AI, dữ liệu, tài sản số, dịch vụ xuyên biên giới… đều đặt ra những vấn đề pháp lý mới.

TRI NHÂN (thực hiện)