Để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026-2030, Việt Nam cần khơi thông các điểm nghẽn để dòng vốn thực sự chảy vào khu vực sản xuất kinh doanh.

Khơi thông dòng vốn vào khu vực sản xuất kinh doanh
Khơi thông dòng vốn vào khu vực sản xuất kinh doanh

Nền kinh tế Việt Nam đang đứng trước ngưỡng cửa của một kỷ nguyên mới-kỷ nguyên vươn mình của dân tộc với những mục tiêu phát triển đầy tham vọng. Để hiện thực hóa tầm nhìn này, bài toán vốn đặt ra những yêu cầu khổng lồ, ước tính tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội giai đoạn 2026-2030 cần đạt khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, gấp hơn hai lần giai đoạn trước. Câu hỏi lớn nhất lúc này là vốn đang ở đâu và làm sao để mạch máu này lưu thông hiệu quả?

Nghịch lý “thừa vốn” nhưng doanh nghiệp vẫn “đói”

Dòng vốn tín dụng ngân hàng từ lâu vẫn là kênh cung ứng vốn chủ đạo của nền kinh tế, chiếm tỷ trọng trên 50% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Tuy nhiên, một thực trạng nan giải đang diễn ra là xã hội không thiếu vốn, hệ thống ngân hàng vẫn dồi dào thanh khoản, nhưng vốn lại chưa đến được với nơi cần nhất là các doanh nghiệp sản xuất. Tính đến các tháng đầu năm 2026, dư nợ toàn ngành đạt gần 19 triệu tỷ đồng, tăng 1,5% so với cuối năm 2025, cho thấy nỗ lực cung ứng vốn của ngành ngân hàng. Thế nhưng, khả năng hấp thụ của doanh nghiệp lại đang gặp rào cản lớn.

Dòng vốn tín dụng ngân hàng từ lâu vẫn là kênh cung ứng vốn chủ đạo của nền kinh tế, chiếm tỷ trọng trên 50% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.

Khơi thông dòng vốn vào khu vực sản xuất kinh doanh
Khơi thông dòng vốn vào khu vực sản xuất kinh doanh

Tính đến các tháng đầu năm 2026, dư nợ toàn ngành đạt gần 19 triệu tỷ đồng, tăng 1,5% so với cuối năm 2025. (Ảnh: Vietnam+)

Ông Nguyễn Quốc Việt, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) nhận định: “Chúng ta đang đối mặt với một nghịch lý là thanh khoản hệ thống ngân hàng không thiếu, nhưng doanh nghiệp lại khó tiếp cận vì năng lực tài chính suy giảm sau các biến động địa chính trị và thiên tai. Mô hình tăng trưởng dựa quá mức vào vốn đầu tư truyền thống đã chạm ngưỡng giới hạn. Thực tế, hệ số ICOR ở khu vực Nhà nước vẫn duy trì ở mức cao, cho thấy hiệu quả sử dụng vốn còn thấp. Điều này đặt ra yêu cầu phải chuyển dịch dòng vốn vào các lĩnh vực có giá trị gia tăng cao hơn.”

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng trong cuộc làm việc với Ngân hàng Nhà nước ngày 29/4/2026 đã nhấn mạnh phải hạn chế tối đa tâm lý găm giữ và đầu cơ tài sản không tạo ra giá trị gia tăng. Khi nền tảng kinh tế vĩ mô vững chắc, hệ thống pháp lý minh bạch, người dân và doanh nghiệp yên tâm thì họ mới bỏ tiền ra sản xuất kinh doanh. Đây là thông điệp mạnh mẽ về việc điều hướng dòng vốn xã hội từ các kênh đầu cơ sang các kênh kiến tạo phát triển.

Khơi thông dòng vốn vào khu vực sản xuất kinh doanh
Khơi thông dòng vốn vào khu vực sản xuất kinh doanh

Dự án cao tốc Quảng Ngãi-Hoài Nhơn dài 88km. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Bên cạnh vốn tín dụng, vốn đầu tư công được kỳ vọng là "vốn mồi" quan trọng để kích hoạt tăng trưởng. Kế hoạch giao vốn năm 2026 lên đến hơn 1 triệu tỷ đồng, đây là con số kỷ lục mang theo kỳ vọng tạo đột phá về hạ tầng chiến lược. Tuy nhiên, thực tế giải ngân lại đang là một bài toán hóc búa. Đến giữa tháng 4/2026, cả nước mới giải ngân đạt 12,6% kế hoạch Thủ tướng giao. Vẫn còn hàng chục Bộ, ngành và địa phương có tỷ lệ giải ngân dưới mức trung bình, thậm chí có đơn vị chưa giải ngân được đồng nào.

Hơn thế nữa, việc chậm giải ngân vốn đầu tư công không chỉ làm lãng phí nguồn lực tài chính mà còn trực tiếp kìm hãm đà tăng trưởng của các ngành phụ trợ như thép, xi măng và dịch vụ logistics.

Về điều này, ông Lê Anh Sơn, Tổng Giám đốc Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam (VIMC) chia sẻ nếu các dự án hạ tầng cảng biển và giao thông không được triển khai đúng tiến độ, chi phí logistics của Việt Nam sẽ vẫn duy trì ở mức cao, làm giảm sức cạnh tranh của hàng hóa Việt trên trường quốc tế. Khơi thông đầu tư công không chỉ là giải ngân tiền, mà là mở ra không gian phát triển mới cho đất nước.

Khơi thông dòng vốn vào khu vực sản xuất kinh doanh
Khơi thông dòng vốn vào khu vực sản xuất kinh doanh

Việc chậm giải ngân vốn đầu tư công không chỉ làm lãng phí nguồn lực tài chính mà còn trực tiếp kìm hãm đà tăng trưởng của các ngành phụ trợ như thép, xi măng và dịch vụ logistics. (Ảnh: Vietnam+)

Yêu cầu chuyển dịch sang tăng trưởng theo chiều sâu

Để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, chúng ta không thể tiếp tục bước đi trên con đường cũ. Mô hình tăng trưởng dựa trên lao động giá rẻ và khai thác tài nguyên đã không còn phù hợp.

Chuyên gia kinh tế Nguyễn Minh Phong chỉ ra “bức tranh” nguồn vốn giai đoạn tới sẽ phức tạp hơn. Việt Nam cần huy động đồng thời nguồn lực Nhà nước, tư nhân và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) nhưng phải bảo đảm sự cân bằng giữa tăng trưởng chiều rộng và chiều sâu. Vốn phải được đổ vào công nghệ lõi, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh.

Thực tế, tăng trưởng kinh tế số trong ba năm qua đạt khoảng 20% mỗi năm, điều này cho thấy dư địa lớn từ các mô hình kinh tế mới. Bài toán đặt ra là làm sao để dòng vốn tín dụng và đầu tư xã hội tập trung vào các "cánh chim đầu đàn" như Viettel, FPT, PVN hay TH Group-những doanh nghiệp có khả năng dẫn dắt chuỗi giá trị và ứng dụng khoa học công nghệ mạnh mẽ.

Tăng trưởng hai con số là một thách thức cực đại nhưng cũng là cơ hội để thay đổi diện mạo đất nước.

Khơi thông dòng vốn vào khu vực sản xuất kinh doanh
Khơi thông dòng vốn vào khu vực sản xuất kinh doanh

Vốn phải được đổ vào công nghệ lõi, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. (Ảnh: Việt Hùng/Vietnam+)

Trong nỗ lực chuyển dịch mô hình tăng trưởng, các ngành công nghiệp nền tảng như thép cũng đang đặt ra những yêu cầu khắt khe về chất lượng nguồn vốn để phục vụ chiến lược xanh hóa. Ông Trần Minh Xuân, Phó Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Thép Việt Nam (Vinasteel), phân tích rằng với đặc thù của một ngành vốn cố định rất lớn và thời gian hoàn vốn kéo dài từ 7 đến 10 năm, doanh nghiệp không thể chỉ dựa vào những dòng vốn ngắn hạn. Tăng trưởng theo chiều sâu trong ngành thép hiện nay gắn liền với việc đầu tư vào các dây chuyền công nghệ hiện đại như lò điện hồ quang nhằm tiêu hao năng lượng thấp và giảm phát thải.

Ông Xuân nhấn mạnh việc tiếp cận tín dụng xanh và tài chính bền vững hiện nay không còn là bộ tiêu chí đáp ứng hình thức, mà là định hướng chiến lược thực chất của doanh nghiệp. Một dự án thép xanh không chỉ giúp tối ưu hóa chi phí vận hành mà còn là 'giấy thông hành' để doanh nghiệp vươn ra thị trường quốc tế. Theo lãnh đạo Vinasteel, việc khơi thông dòng vốn dài hạn cho các dự án có chuẩn mực ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị) cao chính là cách để tạo ra một nền công nghiệp tự chủ, vững chắc, làm nền tảng cho các siêu dự án hạ tầng quốc gia, từ đó đóng góp thực chất vào mục tiêu tăng trưởng bền vững của đất nước.

Theo TTXVN