Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đang đứng trước một yêu cầu mới: Không chỉ tăng trưởng về quy mô, mà phải nâng tầm về chất lượng, công nghệ và khả năng thích ứng dài hạn. Từ thực tiễn đó, mô hình hợp tác “ba nhà” tiếp tục được xem như một đòn bẩy quan trọng trong tiến trình nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Đây là nhận định của các chuyên gia trong khuôn khổ Hội thảo khoa học với chủ đề “Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong kỷ nguyên mới” do Đại học Quốc gia TP.HCM phối hợp với Ban Chính sách Chiến lược Trung ương, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, UBND TP.HCM và Hiệp hội Doanh nghiệp TP.HCM tổ chức chiều ngày 28/1.
Ông Nguyễn Đình Tùng - Tổng giám đốc Vina T&T cho rằng áp lực cạnh tranh hiện nay không chỉ đến từ giá cả hay thị trường, mà ngày càng phụ thuộc vào khả năng đổi mới công nghệ, quản trị chuỗi cung ứng và phát triển bền vững. Chính vì vậy doanh nghiệp không thể “đi một mình”, mà buộc phải dựa vào tri thức, công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao từ khu vực hàn lâm, cùng với sự hỗ trợ chính sách của Nhà nước.
Vấn đề nằm ở chỗ, mối liên kết này hiện vẫn thiếu chiều sâu. Cụ thể trong lĩnh vực xuất khẩu nông sản, ông Tùng cho biết doanh nghiệp có những nhu cầu rất cụ thể, mang tính ứng dụng cao như kéo dài thời gian bảo quản sau thu hoạch, giảm phát thải carbon trong sản xuất - logistics, truy xuất nguồn gốc hay tối ưu chuỗi lạnh... Trong khi đó, không ít đề tài nghiên cứu của trường, viện vẫn nặng về học thuật, thiếu cơ chế đặt hàng rõ ràng và khó thương mại hóa. Kết quả nghiên cứu sau khi nghiệm thu thường dừng lại trên giấy do thiếu kinh phí thử nghiệm, thiếu cơ chế chuyển giao và chia sẻ rủi ro.
Từ phía các cơ sở đào tạo, PGS-TS. Thái Thị Tuyết Dung - Trưởng ban Ban Pháp chế, ĐHQG-TP.HCM thẳng thắn chỉ ra rằng trước thời điểm Luật Khoa học và Công nghệ, Luật Đổi mới sáng tạo và Luật Chuyển giao công nghệ có hiệu lực, các khó khăn trong mối liên kết “ba nhà” chủ yếu tập trung ở ba nhóm: Thứ nhất là các vướng mắc về pháp lý và sở hữu trí tuệ, thể hiện ở việc chưa làm rõ quyền sở hữu kết quả nghiên cứu, khó khăn trong định giá tài sản trí tuệ. Thứ hai là các vấn đề liên quan đến cơ chế hợp tác, như cơ chế phối hợp với doanh nghiệp chưa rõ ràng, vai trò và vị trí của nhà khoa học trong các dự án hợp tác còn thiếu cụ thể. Thứ ba là vấn đề tài chính và rủi ro, khi doanh nghiệp còn e ngại đầu tư do lo ngại các rủi ro pháp lý.

Vấn đề này được nhóm chuyên gia của ĐHQG TP.HCM cụ thể hoá khi cho rằng, cơ chế đặt hàng nghiên cứu giữa doanh nghiệp và nhà trường chưa được thể chế hóa một cách bài bản. Nhà nước vẫn đóng vai trò chủ yếu trong việc “nuôi” đề tài, song lại thiếu các mô hình thí điểm đủ mạnh để doanh nghiệp tham gia ngay từ đầu, từ khâu xác định bài toán đến đồng tài trợ và thương mại hóa. Quy trình phê duyệt, nghiệm thu đề tài còn phức tạp, kéo dài, làm tăng chi phí thời gian và rủi ro, khiến doanh nghiệp e ngại hợp tác.
Về cơ chế tài chính, việc thiếu hướng dẫn thống nhất về quỹ chung theo mô hình hợp tác công - tư, cùng với quy trình định giá và kiểm toán tài sản trí tuệ còn phức tạp, đã làm giảm động lực góp vốn bằng tri thức và công nghệ từ phía doanh nghiệp. Trong khi đó, yêu cầu quản lý chặt chẽ ngân sách nhà nước lại làm giảm tính linh hoạt của các dự án R&D, vốn đòi hỏi phản ứng nhanh với nhu cầu thị trường.
Bên cạnh đó, nguồn nhân lực khoa học - công nghệ chất lượng cao vẫn là nút thắt lớn. Không ít nhà khoa học thiếu kỹ năng làm việc với doanh nghiệp, thiếu tư duy thị trường và năng lực thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Các nhóm nghiên cứu mạnh hình thành còn mang tính tự phát, thiếu cơ chế hỗ trợ dài hạn, trong khi chính sách đãi ngộ và môi trường nghiên cứu chưa đủ sức cạnh tranh để giữ chân nhân tài. Hệ quả là liên kết giữa nhà khoa học và doanh nghiệp thiếu bền vững, chưa lan tỏa rộng, đặc biệt tới khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ - lực lượng chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế.

ThS. Nguyễn Thị Hà - Giảng viên Khoa Xây dựng Đảng, Học viện Cán bộ TP.HCM cho biết, nhìn ra thế giới, kinh nghiệm của Hàn Quốc, Đức và Phần Lan cho thấy, không tồn tại một khuôn mẫu duy nhất cho mô hình “ba nhà”, nhưng đều có điểm chung: Nhà nước giữ vai trò kiến tạo và điều phối, doanh nghiệp là trung tâm, còn khu vực hàn lâm gắn chặt với nhu cầu phát triển kinh tế.
Bà Hà dẫn ví dụ của Hàn Quốc là ví dụ điển hình của mô hình định hướng chiến lược mạnh mẽ từ Nhà nước. Chính phủ không chỉ tạo thể chế mà còn trực tiếp dẫn dắt các chương trình công nghệ quy mô lớn, sử dụng cơ chế đồng tài trợ và đặt hàng nghiên cứu theo mục tiêu quốc gia. Doanh nghiệp, đặc biệt là các tập đoàn lớn, trở thành chủ thể đầu tư chính cho R&D, trong khi các đại học và viện nghiên cứu được tổ chức để phục vụ trực tiếp nhu cầu công nghệ. Mô hình này giúp Hàn Quốc nhanh chóng tích lũy năng lực cạnh tranh toàn cầu, nhưng đòi hỏi năng lực điều phối chính sách rất cao.
Ngược lại, Đức lựa chọn cách tiếp cận cân bằng hơn thông qua hệ thống các viện nghiên cứu ứng dụng như Fraunhofer. Các tổ chức trung gian này vận hành theo logic thị trường, buộc phải tự huy động phần lớn kinh phí từ hợp đồng với doanh nghiệp. Nhờ đó, nghiên cứu khoa học được “kéo” gần hơn với sản xuất, đặc biệt hỗ trợ hiệu quả cho doanh nghiệp vừa và nhỏ - lực lượng xương sống của nền kinh tế Đức.
Phần Lan lại đi theo hướng trao quyền tự chủ cao cho khu vực hàn lâm, kết hợp với các công cụ tài chính linh hoạt. Nhà nước tập trung kiến tạo môi trường thể chế và niềm tin, khuyến khích các sáng kiến hợp tác “từ dưới lên”, thúc đẩy thương mại hóa tri thức thông qua các doanh nghiệp spin-off. Mô hình này tạo ra hệ sinh thái đổi mới sáng tạo lan tỏa, bền vững, dù tốc độ tích tụ công nghệ có thể chậm hơn.

Đối chiếu với Việt Nam, bà Hà cho rằng bài học quan trọng không nằm ở việc sao chép mô hình nào, mà ở cách thiết kế cơ chế phù hợp với điều kiện thể chế và cấu trúc doanh nghiệp trong nước. Trước hết, Nhà nước cần chuyển vai trò từ “can thiệp hành chính” sang “kiến tạo và điều phối hệ thống”, xác lập các mục tiêu dài hạn về khoa học - công nghệ gắn với chiến lược phát triển kinh tế, đồng thời hoàn thiện chính sách sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ và mua sắm công cho đổi mới sáng tạo.
Thứ hai, doanh nghiệp phải thực sự được đặt vào trung tâm của mô hình “ba nhà”, coi nhu cầu công nghệ và năng lực hấp thụ đổi mới là điểm xuất phát của chính sách. Cơ chế ưu đãi thuế cho chi tiêu R&D, đồng tài trợ nghiên cứu, hỗ trợ chuyển đổi xanh cần đủ rõ ràng và đủ mạnh để doanh nghiệp “dám” đầu tư dài hạn.
Thứ ba, Việt Nam cần phát triển các tổ chức trung gian đổi mới sáng tạo chuyên nghiệp, đóng vai trò cầu nối giữa nghiên cứu và thị trường, tương tự mô hình Fraunhofer của Đức. Đây là giải pháp quan trọng để thu hẹp khoảng cách giữa trường - viện và doanh nghiệp, đặc biệt với doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Cuối cùng, khu vực hàn lâm cần được trao quyền tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình, khuyến khích thương mại hóa tri thức, thành lập doanh nghiệp spin-off và luân chuyển nhân sự hai chiều với doanh nghiệp. Khi nhà khoa học được đặt trong môi trường vừa nghiên cứu vừa ứng dụng, mô hình “ba nhà” mới có thể vận hành một cách linh hoạt và hiệu quả.
Hưng Khánh