“Trải thảm đỏ mời gọi nhân tài”; “Trải chiếu hoa mời gọi nhà đầu tư”… là những chủ trương đột phá độc đáo, “mở đường” để Sông Bé - một tỉnh 10 năm sau ngày thống nhất đất nước còn hằn sâu những thương tích của chiến tranh, chuyển mình mạnh mẽ, trở thành “hiện tượng” trong việc thu hút nhân lực và nguồn vốn đầu tư.
Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Sông Bé - sau là Bình Dương và nay là hợp phần của TPHCM, đã xây nên một hành trình bứt phá, dám nghĩ lớn và làm đến cùng.
Những cung đường “mở lối”
Năm 1986, khi luồng gió đổi mới thổi bùng vào đời sống xã hội, tỉnh Sông Bé lập tức đón lấy thời cơ. Câu chuyện điển hình trong “cởi trói tư duy” là việc triển khai ý tưởng “giao thông đi trước mở đường”: Đầu tư, nâng cấp quốc lộ 13 theo hình thức BOT.
Sau gần 100 năm được người Pháp xây dựng từ đầu thế kỷ 20 phục vụ cho việc khai thác thuộc địa, quốc lộ 13 nối TPHCM với Campuchia đoạn thuộc địa phận tỉnh (qua các huyện Thuận An, thị xã Thủ Dầu Một và huyện Bến Cát- trước đây) vẫn nguyên “hình hài” như ban đầu: dài 61km và chỉ… rộng 2 làn xe.
Lãnh đạo địa phương cảm thấy trách nhiệm phải nâng cấp, mở rộng con đường; làm đồng bộ hạ tầng để kết nối vùng nếu muốn công nghiệp hóa, hiện đại hóa quê nhà. Khó mấy cũng phải làm và làm hết sức mình. Cấp trên chưa đồng ý thì giải trình, kiên trì thuyết phục. Khi địa phương đã “gõ cửa” thì Trung ương “mở cửa”.

Vậy là những vướng mắc, khó khăn về cơ chế dần được giải quyết, tuyến quốc lộ 13 được nâng thành đường cấp I, rộng 6 làn xe do nguồn vốn và nhân lực thi công của một doanh nghiệp nhà nước của tỉnh nhà. Con đường được nâng cấp, làm mới, mang tên Đại lộ Bình Dương. Ngày khánh thành, nhân dân vui mừng khôn xiết, lãnh đạo càng vui hơn, nhất là với những người đã từng chiến đấu trên quốc lộ 13, tham gia các trận Bàu Bàng, Lai Khê, Chơn Thành, Tàu Ô,…
Từ đây, “thảm đỏ”, “chiếu hoa” của tỉnh nhà đã trải sát địa phận “đầu tàu” TPHCM; có tác dụng như một đòn bẩy, một nam châm thu hút mạnh mẽ lực lượng sản xuất tay nghề cao. Nhờ đó, nhiều vùng đất nông nghiệp như Tân Uyên, Bến Cát, Thủ Dầu Một…, lần lượt được nâng cấp lên thị xã, thành phố với tốc độ công nghiệp hóa, đô thị hóa nhanh chóng.
Song song với đường sá, tỉnh dồn toàn lực cho hạ tầng kỹ thuật. Hạ tầng phát triển, tỉnh thu hút nhiều doanh nghiệp vào đầu tư. Việc đầu tư xây dựng cơ bản cũng là tiền đề dẫn dắt, thu hút, khởi động các nguồn đầu tư từ nguồn lực của doanh nghiệp, nổi bật là vai trò của Công ty Thương nghiệp tổng hợp Bến Cát (sau này là Công ty Thương mại đầu tư và phát triển Sông Bé - Becamex), góp phần xây dựng một mô hình doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò chủ công, dẫn dắt thúc đẩy kinh tế phát triển.
Cũng từ sự dẫn dắt này, tỷ trọng công nghiệp vốn rất khiêm tốn vào năm 1986 đã vọt lên chiếm 25% GRDP của tỉnh vào năm 1995. Tính đến năm 1996, có 845 doanh nghiệp với tổng vốn đầu tư 8.900 tỷ đồng. Những xí nghiệp cũ dần thích ứng với cơ chế mới, những trang trại chăn nuôi hiệu quả mọc lên (hơn 1.000 trang trại vào năm 1996) đã phác họa nên một diện mạo mới cho vùng đất. Ngoài số lượng doanh nghiệp đầu tư trong nước tăng nhanh, đã có 52 dự án của doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào tỉnh với tổng vốn đăng ký 498 triệu USD.
Từ “chú bé hạt tiêu” đến mô hình VSIP kiểu mẫu
Giai đoạn 1994 - 1996 là thời điểm Sông Bé tạo nên những cơn “địa chấn” về kinh tế với mô hình các khu công nghiệp (KCN). Người ta vẫn nhắc về KCN Bình Đường ra đời năm 1994 như một “chú bé hạt tiêu”. Với diện tích 24ha nhưng do “đánh” đúng vào xu thế phát triển, KCN Bình Đường đã nhanh chóng lấp đầy diện tích ngay khi vừa ra mắt.
Thành công nối tiếp thành công, những “ông lớn” như KCN Sóng Thần I (diện tích 180,3ha), KCN Sóng Thần II (gần 309ha) lần lượt xuất hiện, trở thành bến đỗ cho các ngành công nghiệp nặng, cơ khí và chế biến. Năm 1996, KCN Việt Hương I được xây dựng, mang mô hình công ty cổ phần đứng ra xây dựng và đảm trách KCN để kêu gọi dự án đầu tư. Chỉ trong thời gian ngắn, KCN Việt Hương I đã thu hút 32 dự án, trong đó có 31 dự án đầu tư nước ngoài với vốn đăng ký 60 triệu USD.

Song, dấu ấn đậm nét nhất phải kể đến sự ra đời của KCN Việt Nam - Singapore (VSIP I) cùng năm 1996, mở ra con đường thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Đây là một liên doanh tầm cỡ giữa các tập đoàn uy tín Becamex IDC và Sembcorp (Singapore), là quả ngọt của công thức: “Chính phủ mở đường, địa phương kiến tạo, doanh nghiệp tiên phong”.
KCN mang tính biểu tượng này không chỉ mang về hàng tỷ USD vốn đầu tư mà còn đưa Sông Bé trở thành tỉnh “đổi mới năng động nhất nước”. Chỉ trong chặng đường 10 năm (1986 - 1996), Sông Bé đã chuyển mình ngoạn mục. Việc huy động các thành phần kinh tế tham gia xây dựng hạ tầng không chỉ tạo công ăn việc làm cho hàng vạn người dân mà còn đúc kết những kinh nghiệm quý báu về quản lý, vận hành xí nghiệp hiện đại sau này.
Đi trước, đón đầu
Khi tái lập tỉnh năm 1997, quy mô kinh tế của Bình Dương đạt 3.919 tỷ đồng với tỷ trọng các ngành nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ trong cơ cấu kinh tế của tỉnh lần lượt là 22,8%, 50,4% và 26,8%. Khi đó, Bình Dương có 6 KCN với diện tích quy hoạch 800ha, thu ngân sách 817 tỷ đồng/năm, thu nhập bình quân đầu người đạt 5,8 triệu đồng/năm…
Một lần nữa, lãnh đạo tỉnh trăn trở và đi đến thống nhất xác định chủ trương đổi mới, ưu tiên phát triển các KCN tập trung, tạo môi trường thông thoáng với chủ trương “trải thảm đỏ” thu hút nhanh nguồn vốn. Thường vụ Tỉnh ủy đã bàn tới việc tập trung phát triển một số KCN, từng bước gắn với ứng dụng khoa học công nghệ và phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp.

Nông nghiệp từ chỗ chiếm hơn 28% cơ cấu kinh tế khi tái lập tỉnh Bình Dương, đã giảm còn 2,7% vào năm 2024. Điều thú vị là diện tích đất nông nghiệp tuy nhỏ nhưng thu được giá trị kinh tế cao, do phát triển nông nghiệp đô thị, nông nghiệp công nghệ cao. Giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng năm 2024 đã tăng gần 100 lần so với năm 1997.
Từ xuất phát điểm với ngành công nghiệp manh mún, năng lực sản xuất còn thấp, đến năm 2024, Bình Dương có gần 30 KCN, thu hút FDI khoảng 4,5 tỷ USD, trở thành thành phố công nghiệp hàng đầu cả nước. Đó là một hành trình đòi hỏi lãnh đạo Sông Bé - Bình Dương qua các thời kỳ luôn phải “dám nghĩ, biết làm” và “dám chịu trách nhiệm” bởi không ít lần họ phải “phá rào”, “mở đường”.
Nghị quyết lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bình Dương trong các kỳ đại hội đều chọn phát triển công nghiệp là khâu đột phá, có vai trò tác động trở lại dịch vụ và nông nghiệp, nâng cao đời sống nhân dân. Chọn phát triển công nghiệp là khâu đột phá trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, từ năm 2001 đến 2021, Bình Dương đã huy động các nguồn lực đầu tư phát triển thêm các KCN, cụm công nghiệp. Năm 2023, quy mô GRDP của Bình Dương tăng hơn 117 lần so với năm 1997, thu nhập bình quân đầu người cao nhất cả nước.
Từ năm 2017, Bình Dương được công nhận là tỉnh đầu tiên trong cả nước không còn hộ nghèo theo chuẩn của Trung ương. Và đây cũng là địa phương đầu tiên được Tổ chức Cộng đồng thông minh thế giới (ICF) vinh danh Tốp 1 Cộng đồng có chiến lược phát triển thành phố thông minh tiêu biểu trên thế giới.
Chủ trương “trải chiếu hoa mời gọi đầu tư”, “trải thảm đỏ mời gọi nhân tài” cùng sự “dám làm” trong tiến trình Đổi mới đã “biến” mảnh đất khô cằn thành địa phương phát triển với mô hình công nghiệp - đô thị - dịch vụ, rồi lan rộng ra các tỉnh, thành.
Câu chuyện chuyển mình của vùng đất Bình Dương chính là cách nghĩ, cách làm, đặc biệt là mô hình phát triển đầy sáng tạo: “Trung ương mở đường, địa phương kiến tạo, doanh nghiệp đồng hành, người dân tham gia”, như tại cuộc hội thảo khoa học “Mô hình phát triển của Bình Dương trong công cuộc đổi mới đất nước” được tổ chức vào năm 2023, nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã đúc kết: Thành công của Bình Dương nhờ sự nhất trí, đồng thuận của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân cùng dốc sức.
Ngày 1-7-2025, “Thủ phủ công nghiệp” Bình Dương cùng TPHCM và thành phố biển Bà Rịa - Vũng Tàu “hợp lực” thành đầu tàu kinh tế lớn nhất nước. Rồi đây, với không gian phát triển đa cực - tích hợp - siêu kết nối, TPHCM sẽ mang trong mình thủ phủ công nghiệp sản xuất chip điện tử “made by Việt Nam” có giá trị gia tăng cao.
MAI SÔNG BÉ