Nhắc đến nhà giáo, nhà nghiên cứu văn hóa, dịch giả Trương Quang Đệ, nhiều người nhớ đến một học giả dành trọn đời cho công việc truyền bá tri thức và kết nối các nền văn hóa. Hơn nửa thế kỷ lao động bền bỉ, ông đã để lại dấu ấn qua nhiều công trình nghiên cứu, biên soạn và dịch thuật từ tiếng Pháp, tiếng Nga cũng như quốc tế ngữ (Esperanto).
Ở vai trò một dịch giả, Trương Quang Đệ được nhiều bạn đọc biết đến qua bản dịch của các tác phẩm kinh điển, như: Balzac và cô thợ may Trung Hoa bé nhỏ, Đại tượng vô hình của François Jullien, René Descartes và tư duy khoa học..., cùng nhiều công trình nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa.
Trương Quang Đệ cũng là chủ biên bộ sách giáo khoa tiếng Pháp bậc trung học phổ thông trước đây và là tác giả Ngữ pháp văn bản tiếng Pháp, tài liệu tham khảo quen thuộc của nhiều thế hệ giáo viên và sinh viên ngoại ngữ.

Sinh ra trong một gia đình trí thức nhiều thế hệ, trưởng thành giữa khói lửa chiến tranh, vốn tri thức ban đầu của ông chủ yếu đến từ tự học. Sau này, với vị trí giảng viên tiếng Pháp rồi Trưởng khoa Ngoại ngữ, Trường Đại học Sư phạm Huế, ông có điều kiện tiếp cận sâu hơn với các nguồn tri thức phương Tây.
Tuy nhiên, khi nhìn lại cuộc đời dịch thuật của mình, dịch giả Trương Quang Đệ bày tỏ, kỷ niệm mà ông không bao giờ quên lại không nằm ở những tác phẩm đã xuất bản, mà là 2 lần được giao thực hiện bản dịch, cuộc dịch trong những điều kiện hết sức đặc biệt.
Trắng đêm dịch Di chúc Bác Hồ ở châu Phi
Tháng 9-1969, sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần, Trương Quang Đệ khi đó đang được Bộ Giáo dục cử sang giảng dạy môn Toán tại Bamako, thủ đô Mali (ông vốn là Cử nhân Toán học, sau đó mới chuyển sang nghiên cứu ngôn ngữ). Tin buồn từ Việt Nam nhanh chóng lan đến nơi đây, không khí xúc động bao trùm cộng đồng người Việt cũng như bạn bè quốc tế yêu mến Việt Nam.
Lúc đó, Bộ Ngoại giao Mali, các cơ quan truyền thông và nhiều đại sứ quán nước ngoài tại đây đều mong muốn có được những tài liệu chính thức bằng tiếng Pháp về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhu cầu cấp thiết nhất là tiểu sử tóm tắt và bản Di chúc thiêng liêng của Người. Trong tình hình đó, Đại sứ quán Việt Nam tại Mali khẩn cấp mời ông đến, đề nghị thực hiện ngay bản dịch chính thức để kịp thời cung cấp đến bạn bè quốc tế.
Thời điểm đó, điều kiện làm việc ở châu Phi còn rất thiếu thốn, thời gian lại vô cùng gấp gáp. Dịch giả Trương Quang Đệ đã gấp rút tổ chức một “dây chuyền” dịch thuật ngay trong đêm. Trương Quang Đệ đọc các bản gốc tiếng Việt, dịch từng câu sang tiếng Pháp. Bên cạnh ông, cán bộ văn hóa của Đại sứ quán ghi chép lại từng dòng. Sau đó, bản thảo được chuyển sang cho thư ký đánh máy.
Khi hoàn thành, các trang giấy lập tức được đưa đi in ấn. Cả nhóm làm việc liên tục suốt đêm. Không ai nhớ đã uống bao nhiêu tách cà phê hay nhìn đồng hồ bao nhiêu lần. Mọi người chỉ biết phải hoàn thành công việc trước sáng hôm sau.
Đối với Trương Quang Đệ, đó không đơn thuần là một bản dịch. Trên từng trang giấy là những dòng chữ thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi lại cho Đảng, cho nhân dân và cho tương lai đất nước. Vì vậy, mỗi câu chữ đều phải được cân nhắc rất kỹ lưỡng để vừa chính xác về nội dung, vừa giữ được sắc thái tư tưởng và tình cảm của nguyên tác.
Đến gần sáng, công việc mới hoàn tất. Những bản tài liệu đầu tiên nhanh chóng được chuyển tới các cơ quan hữu quan. Vài ngày sau, khi đọc báo chí địa phương, Trương Quang Đệ thấy bản dịch của mình được trích đăng nguyên văn. Cảm giác lúc ấy vừa tự hào vừa xúc động.
Ông cảm nhận rõ ràng rằng người dịch không chỉ là người chuyển ngữ, mà còn góp phần đưa hình ảnh và tiếng nói của dân tộc mình đến với thế giới trong những thời khắc đặc biệt của lịch sử.
Bản dịch diễn văn đón linh cữu Vua Duy Tân
18 năm sau, một nhiệm vụ đặc biệt khác lại đến với ông. Năm 1987, thi hài của Vua Duy Tân được đưa từ châu Phi về Huế sau hơn bốn mươi năm xa quê hương. Đây là một sự kiện lịch sử và văn hóa lớn, thu hút sự quan tâm đặc biệt của đông đảo nhân dân.
Trong lễ đón tại Huế, dự kiến ông Georges Vĩnh San - con trai Vua Duy Tân - sẽ đọc một bài diễn văn bằng tiếng Pháp trước nhân dân và đại diện chính quyền.
Đêm trước buổi lễ, lãnh đạo tỉnh Bình Trị Thiên (nay là tỉnh Quảng Trị và TP Huế) tìm đến nhờ ông Trương Quang Đệ (khi ấy là Trưởng khoa Ngoại ngữ ĐH Sư phạm Huế) dịch toàn bộ bài phát biểu sang tiếng Việt, đồng thời đảm nhận việc phiên dịch trực tiếp trong buổi lễ ngày hôm sau.
Đây là nhiệm vụ không hề đơn giản. Bài diễn văn chứa nhiều chi tiết lịch sử liên quan đến triều Nguyễn, cuộc đời Vua Duy Tân, phong trào đấu tranh chống thực dân của các chí sĩ yêu nước và quãng đời lưu đày của nhà vua trên đảo Réunion (thuộc Pháp). Nhiều thuật ngữ lịch sử, địa danh và nhân vật đòi hỏi người dịch phải có kiến thức sâu cả về lịch sử Việt Nam lẫn bối cảnh nước Pháp.
Một lần nữa, Trương Quang Đệ lại thức trắng đêm để hoàn thành công việc. Trong căn nhà nhỏ, cả gia đình cùng tham gia vào công việc. Ông tập trung dịch từng câu, từng chữ. Người chị vợ ngồi bên ghi chép lại bản dịch, vợ ông đánh máy lại từng trang bản thảo vừa hoàn thành.
Công việc diễn ra liên tục trong tiếng gõ máy chữ và những cuộc trao đổi ngắn để kiểm tra lại từng cách diễn đạt. Gần sáng, bản dịch mới hoàn tất. Không có thời gian nghỉ ngơi, ông lập tức được xe đón đến địa điểm tổ chức buổi lễ.
Trước hàng ngàn người dân Huế, Trương Quang Đệ đứng cạnh Georges Vĩnh San. Mỗi khi ông Georges Vĩnh San đọc xong một đoạn bằng tiếng Pháp, ông lại chuyển tải ngay sang tiếng Việt. Công việc đòi hỏi sự tập trung cao độ, bởi chỉ một sai sót nhỏ cũng có thể làm thay đổi ý nghĩa của những lời phát biểu đầy cảm xúc trong ngày đặc biệt ấy.
Buổi lễ diễn ra trong không khí trang nghiêm và xúc động. Người dân chăm chú lắng nghe câu chuyện về cuộc đời vị vua yêu nước đã từng tham gia phong trào chống thực dân, bị đày ra nước ngoài và cuối cùng trở về với quê hương sau nhiều thập niên xa cách. Nhiều người xúc động khi nghe những tâm sự của người con thay mặt gia đình nói về người cha và về đất nước Việt Nam.
Khi nghi thức kết thúc, đoàn xe chở linh cữu tiếp tục di chuyển qua các tuyến phố của Huế rồi tiến về nơi an táng. Dòng người đổ ra hai bên đường tiễn đưa. Ai nấy đều hướng theo đoàn xe trong niềm xúc động. Mọi người đều mải theo đoàn đưa tiễn nên gần như quên mất ông phiên dịch, và hai vợ chồng ông đã đạp xe chở nhau về nhà.
Những đêm dịch thuật ấy dù đã qua bao nhiêu năm, giờ vẫn vẹn nguyên trong ký ức của ông Trương Quang Đệ như những kỷ niệm không thể nào quên. Đó là những khoảnh khắc mà ngôn ngữ đã trở thành nhịp cầu nối quá khứ với hiện tại, nối Việt Nam với thế giới và góp phần lưu giữ ký ức dân tộc cho các thế hệ mai sau.
KHẮC HÀO (ghi theo lời kể của học giả Trương Quang Đệ)