Các chuyên gia kinh tế chỉ ra doanh nghiệp Việt đang đứng trước bước ngoặt lớn, thoát khỏi cái bóng "gia công" để xác lập vị thế tự chủ trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Cả nước đã hình thành được mạng lưới khoảng 6.000 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ, nhưng năng lực đáp ứng thực tế của khối doanh nghiệp thuần Việt vẫn còn rất khiêm tốn. (Ảnh: Vietnam+)
Cả nước đã hình thành được mạng lưới khoảng 6.000 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ, nhưng năng lực đáp ứng thực tế của khối doanh nghiệp thuần Việt vẫn còn rất khiêm tốn. (Ảnh: Vietnam+)

Nghịch lý “10/90” và những khoảng trống

Toàn cảnh về nền công nghiệp hỗ trợ Việt Nam đang cho thấy một nghịch lý. Cụ thể, tiến sỹ Trịnh Quốc Vinh, Ủy viên Hội đồng khoa học, Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương, chỉ ra hai con số khái quát 10% và 90%. Theo ông, dù cả nước đã hình thành được mạng lưới khoảng 6.000 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ, nhưng năng lực đáp ứng thực tế của khối doanh nghiệp thuần Việt vẫn còn rất khiêm tốn.

Hiện tại, các đơn vị này mới chỉ cung ứng được khoảng 10% nhu cầu linh kiện, phụ tùng cho sản xuất trong nước. Điều này đồng nghĩa với việc 90% thị phần còn lại, trị giá hàng chục tỷ USD vẫn đang nằm trong tay các doanh nghiệp vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) hoặc phụ thuộc hoàn toàn vào nhập khẩu.

Sự chênh lệch này thể hiện rõ nét qua tỷ lệ nội địa hóa ở các ngành then chốt. Ông Vinh dẫn chứng bên cạnh ngành dệt may là điểm sáng với tỷ lệ nội địa hóa đạt khoảng 48%, thì những lĩnh vực công nghệ cao (như điện tử) con số này chỉ dừng lại ở mức 15-18%.

Ngay cả trong ngành ôtô, một minh chứng điển hình là trường hợp của Toyota, trong số 60 nhà cung cấp hiện tại chỉ có vỏn vẹn 13 doanh nghiệp Việt Nam. Thực trạng này cho thấy doanh nghiệp nội địa đang ở vị thế "tiềm năng" nhưng lại thiếu lực lượng đủ sức đi đường dài.

Ông Vinh cho rằng hiện chỉ khoảng 5-10% doanh nghiệp thực sự đủ năng lực tham gia sâu và bền vững vào chuỗi cung ứng toàn cầu, số còn lại vẫn loay hoay ở phân khúc giá trị thấp.

Doanh nghiệp Việt và khát vọng tự chủ chuỗi cung ứng
Doanh nghiệp Việt và khát vọng tự chủ chuỗi cung ứng

Nguyên nhân cốt lõi khiến doanh nghiệp Việt khó bứt phá không chỉ nằm ở quy mô vốn mà còn ở năng lực nghiên cứu và phát triển. (Ảnh: Vietnam+)

Bài toán nâng cao giá trị chất xám

Nguyên nhân cốt lõi khiến doanh nghiệp Việt khó bứt phá không chỉ nằm ở quy mô vốn mà còn ở năng lực nghiên cứu và phát triển (R&D).

Ông Phạm Hoàng Long, Trưởng Khối Cung ứng Honda Việt Nam, đưa đến một góc nhìn thực tế với 30 năm có mặt tại thị trường, Honda hiện có 150 nhà cung cấp nhưng giá trị hàng hóa từ 30 doanh nghiệp thuần Việt chưa chiếm nổi 20% tổng lượng mua hàng. Ông cho biết phần lớn giá trị thặng dư vẫn thuộc về các công ty FDI nhờ sở hữu hàm lượng chất xám cao hơn trong từng phụ tùng.

Các doanh nghiệp Việt hiện nay chủ yếu cung cấp các linh kiện đơn chiếc (như đồ nhựa hoặc hàng dập) dựa trên bản vẽ có sẵn. Các doanh nghiệp trong nước mới chỉ chủ động được khâu làm khuôn cối và chế tạo, nhưng lại chưa đủ sức thiết kế ra những sản phẩm linh kiện phức tạp, có tính tùy biến cao để đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng quốc tế.

Với thực tế này, ông Long nhấn mạnh nguyên nhân do thiếu hụt năng lực R&D khiến cho giá trị sản phẩm thấp đồng thời làm giảm khả năng cạnh tranh trực tiếp với các nhà cung cấp nước ngoài ngay trên sân nhà. Để chuyển mình, ông Long cho rằng các doanh nghiệp cần thay đổi tư duy từ "làm theo mẫu" sang "tự thiết kế và làm chủ công nghệ nguồn."

Trước những thách thức trên, ông Nguyễn Đức Hiển, Phó Trưởng Ban chính sách, chiến lược Trung ương, nhấn mạnh việc phát triển hệ sinh thái cung ứng không còn là câu chuyện riêng của từng doanh nghiệp mà là vấn đề năng lực quốc gia. Ông cho biết hiện nay, các cơ quan chức năng đang hoàn thiện Nghị quyết về giải pháp chiến lược thúc đẩy tăng trưởng hai con số gắn với mô hình tăng trưởng mới. Trong đó, vai trò của nhà cung ứng được nâng tầm thành nền tảng để đảm bảo tính tự chủ và an ninh kinh tế.

“Việc đứt gãy chuỗi cung ứng trong giai đoạn đại dịch vừa qua đã trở thành bài học đắt giá. Nó thúc đẩy yêu cầu phải xây dựng một hệ thống doanh nghiệp nội địa vững mạnh, có khả năng kết nối linh hoạt với cả khối FDI và thị trường quốc tế,” ông Hiển trao đổi.

Theo đó, ông Hiển cũng cho biết Chính phủ cũng đang có những bước đi cụ thể thông qua việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, như Nghị định thay thế Nghị định 111/2015/NĐ-CP về công nghiệp hỗ trợ, nhằm mở rộng đối tượng ưu đãi và hỗ trợ kinh phí R&D lên đến 50% chi phí thử nghiệm. Đặc biệt, chương trình "Go Global" do Bộ Công Thương chủ trì kỳ vọng sẽ tạo ra đòn bẩy để doanh nghiệp Việt vươn ra biển lớn.

Ông Hiển khẳng định: “Trong bối cảnh mới, Nhà nước sẽ đóng vai trò kiến tạo chính sách, để doanh nghiệp, hiệp hội và các viện nghiên cứu trở thành chủ thể chính trong việc triển khai các chương trình hỗ trợ, từ đó tạo ra sức mạnh cộng hưởng cho toàn nền kinh tế”.

Theo TTXVN