Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 366/2025/NĐ-CP quy định về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
Nghị định này cụ thể hóa các nội dung của Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp, bao gồm các quy định tại khoản 4 Điều 11; khoản 2 Điều 12; khoản 3 Điều 13; khoản 2 Điều 14; khoản 3 Điều 15; khoản 1 và khoản 2 Điều 16; khoản 5 Điều 17; khoản 2 Điều 18; khoản 7 Điều 19; khoản 6 Điều 20; khoản 6 Điều 21; khoản 3 Điều 23; khoản 3 Điều 25; khoản 4 Điều 26; điểm e khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều 27; khoản 2 Điều 56 và khoản 8 Điều 59 của Luật.
Nghị định áp dụng đối với cơ quan đại diện chủ sở hữu; người đại diện chủ sở hữu trực tiếp; người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp; doanh nghiệp nhà nước theo quy định của Luật Doanh nghiệp; tổ chức tín dụng do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng (trừ Ngân hàng Chính sách); cùng các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan đến hoạt động quản lý, đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

Việc đầu tư bổ sung vốn điều lệ cho doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ được thực hiện đối với các doanh nghiệp đang hoạt động và thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định. Cụ thể, doanh nghiệp phải hoạt động có hiệu quả và có nhu cầu bổ sung vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh. Việc đánh giá hiệu quả được căn cứ trên kết quả xếp loại doanh nghiệp trong hai năm liền kề trước năm đề xuất, với điều kiện đạt từ loại B trở lên theo quy định về giám sát, đánh giá và xếp loại doanh nghiệp nhà nước.
Bên cạnh đó, việc bổ sung vốn còn áp dụng đối với doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh; doanh nghiệp khoa học và công nghệ theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực độc quyền tự nhiên; doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp theo quy định về sắp xếp, đổi mới tổ chức và cơ chế quản lý đối với các công ty nông, lâm nghiệp. Ngoài ra, những trường hợp đặc biệt khác có thể được xem xét theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở đề nghị của cơ quan đại diện chủ sở hữu.
Đối với các trường hợp không thuộc các nhóm nêu trên nhưng doanh nghiệp vẫn hoạt động hiệu quả và có nhu cầu bổ sung vốn điều lệ, việc đầu tư được thực hiện từ các nguồn quy định tại khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều 11 của Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Việc xác định doanh nghiệp hoạt động hiệu quả tiếp tục áp dụng theo tiêu chí đánh giá tại khoản 1 Điều này.
Quy định về đánh giá hiệu quả không áp dụng trong trường hợp bổ sung vốn điều lệ từ nguồn tài sản công hình thành từ dự án sử dụng vốn nhà nước, đã xác định rõ đối tượng thụ hưởng và được tính là phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công.
Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư bổ sung vốn điều lệ cho doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ sau khi Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư theo quy định của Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Đồng thời, Thủ tướng cũng quyết định chủ trương đầu tư đối với các trường hợp bổ sung vốn từ nguồn lợi nhuận sau thuế được để lại hoặc từ ngân sách nhà nước có giá trị từ 5.000 tỷ đồng trở lên, trừ những trường hợp đã được quy định khác.
Cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết định việc đầu tư bổ sung vốn điều lệ cho doanh nghiệp từ nguồn ngân sách nhà nước sau khi có chủ trương đầu tư của Thủ tướng Chính phủ; bổ sung vốn từ ngân sách địa phương; và các trường hợp khác không thuộc thẩm quyền quyết định của Thủ tướng theo quy định của pháp luật.
Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty quyết định đầu tư bổ sung vốn điều lệ đối với các trường hợp sử dụng nguồn Quỹ đầu tư phát triển, Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ; nguồn lợi nhuận sau thuế được để lại sau khi đã có quyết định chủ trương đầu tư của Thủ tướng Chính phủ; nguồn tài sản công hình thành từ dự án sử dụng vốn nhà nước đã xác định đối tượng thụ hưởng và được tính là phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp; cũng như các nguồn vốn khác theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 5 của Nghị định.
Nghị định số 366/2025/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/1/2026.
Văn Tùng