Ngày 22-5, tại TP Cần Thơ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VH-TT-DL), Bộ Công an, Bộ Dân tộc - Tôn giáo và UBND TP Cần Thơ phối hợp tổ chức Hội nghị “Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Khmer”.

Tham dự hội nghị có đại diện lãnh đạo các bộ ngành, địa phương; các chức sắc, tu sĩ và các nhà nghiên cứu văn hóa…
Theo báo cáo từ Bộ VH-TT-DL, đồng bào dân tộc Khmer là một trong những dân tộc thiểu số có dân số đông tại Việt Nam, với khoảng trên 1,3 triệu người, cư trú tập trung tại khu vực Nam Bộ, vùng ĐBSCL như: An Giang, Cà Mau, Cần Thơ, Đồng Nai, Đồng Tháp, Tây Ninh, TPHCM và Vĩnh Long. Đây là cộng đồng dân cư có lịch sử cư trú lâu đời, tạo dựng nên một không gian văn hóa đặc sắc, giàu bản sắc, đóng vai trò quan trọng trong nền văn hóa Việt Nam thống nhất trong đa dạng.

Chỉ tính riêng tại khu vực Tây Nam bộ hiện đã có trên 450 chùa Phật giáo Nam tông Khmer, đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống cộng đồng. Chùa không chỉ là trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo mà còn là nơi bảo tồn, truyền dạy tiếng nói, chữ viết, lưu giữ thư tịch cổ, nghệ thuật dân gian, giáo dục đạo đức và duy trì các giá trị văn hóa truyền thống.

Các lễ hội truyền thống như: Chôl Chnăm Thmây, Sene Dolta, Oóc Om Bóc, lễ Cúng Trăng, đua ghe Ngo... tiếp tục được duy trì rộng khắp tại các địa phương có đông đồng bào dân tộc Khmer sinh sống. Nhiều loại hình di sản văn hóa của đồng bào Khmer đã được đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, như: nghệ thuật Dù kê Khmer Nam Bộ, nghệ thuật Rô băm, lễ hội Oóc Om Bóc, nghệ thuật trình diễn dân gian nhạc Ngũ âm, nghề làm cốm dẹp của dân tộc Khmer, nghệ thuật múa dân gian Khmer. Đây là cơ sở quan trọng để triển khai các hoạt động bảo tồn, phục dựng và phát huy giá trị văn hóa truyền thống trong giai đoạn hiện nay.

Phát biểu tại hội nghị, bà Trịnh Thị Thủy, Thứ trưởng Bộ VH-TT-DL cho rằng, đồng bào dân tộc Khmer có truyền thống văn hóa đặc sắc, góp phần quan trọng làm nên sự đa dạng và thống nhất của nền văn hóa Việt Nam. Những giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Khmer, từ hệ thống chùa Phật giáo Nam tông, các lễ hội truyền thống, nghệ thuật trình diễn dân gian đến tiếng nói, chữ viết và tri thức dân gian… là những di sản vô cùng quý báu cần được gìn giữ, bảo tồn và phát huy trong bối cảnh phát triển và hội nhập hiện nay.
Thời gian qua, việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác dân tộc và phát triển văn hóa, công tác bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc Khmer đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Nhiều loại hình di sản được kiểm kê, phục dựng; các lễ hội, nghệ thuật truyền thống được duy trì; đời sống văn hóa của đồng bào dân tộc Khmer từng bước được nâng cao…

Thứ trưởng Bộ VH-TT-DL Trịnh Thị Thủy cũng thẳng thắn nhìn nhận, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cũng đang đặt ra không ít khó khăn, thách thức như: Một số loại hình văn hóa truyền thống có nguy cơ mai một; cùng với thời gian, đội ngũ nghệ nhân ngày càng cao tuổi, việc truyền dạy văn hóa trong cộng đồng, nhất là đối với thế hệ trẻ còn gặp nhiều khó khăn; quá trình đô thị hóa, di cư lao động và tác động của kinh tế thị trường đang làm biến đổi không gian văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số nói chung và đồng bào Khmer nói riêng…

Thông qua hội nghị là dịp để ngành VH-TT-DL từ Trung ương đến địa phương cùng nhìn nhận, đánh giá khách quan, toàn diện thực trạng công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Khmer. Bên cạnh đó, đây cũng là diễn đàn để các ban, bộ, ngành, địa phương, các nhà khoa học, nghệ nhân, chức sắc tôn giáo và đại diện đồng bào dân tộc Khmer trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, đề xuất các mô hình, giải pháp phù hợp, gắn với thực tiễn công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Khmer. Qua đó, thống nhất nhận thức và hành động, xác định đây không chỉ là nhiệm vụ văn hóa mà còn là nhiệm vụ chính trị, xã hội quan trọng, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và phát triển bền vững đất nước.
TUẤN QUANG