(ĐTTCO) - Cạnh tranh toàn cầu ngày càng dựa trên công nghệ và đổi mới sáng tạo, câu hỏi quan trọng không chỉ là thu hút được bao nhiêu FDI, mà là làm thế nào để dòng vốn này trở thành động lực nâng cao năng lực công nghệ, đổi mới sáng tạo và sức cạnh tranh dài hạn của quốc gia.

Phải giàu lên nhờ FDI
Những số liệu mới nhất cho thấy khu vực FDI đang giữ vai trò quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam khi đóng góp hơn 20% GDP; 15-18% tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội, hơn 70% kim ngạch xuất khẩu và tạo việc làm cho hơn 5 triệu lao động.
Thế nhưng, khi nền kinh tế bước sang một giai đoạn phát triển mới, mục tiêu của chính sách FDI cũng cần được nâng lên một nấc thang mới. Yêu cầu đặt ra hiện nay là nâng cao chất lượng hợp tác, mức độ lan tỏa và khả năng cộng hưởng giữa khu vực FDI với nền kinh tế trong nước. Điều đó đòi hỏi phải chuyển mạnh từ tư duy “thu hút FDI” sang tư duy “quản trị và sử dụng FDI”.
Điều Việt Nam cần không chỉ là thêm nhiều nhà máy sản xuất, mà là thêm năng lực công nghệ, năng lực đổi mới sáng tạo và năng lực cạnh tranh của DN Việt Nam.
Trong bối cảnh đó, nhiều kỳ vọng về việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Điều được trông đợi không chỉ là cơ chế thu hút dòng vốn mới, mà còn là giải pháp nâng cấp các dự án FDI hiện hữu, tăng liên kết với DN trong nước và nâng hiệu quả lan tỏa đối với nền kinh tế.
Yêu cầu này càng trở nên cấp thiết khi cuộc cạnh tranh thu hút đầu tư toàn cầu đang thay đổi rất nhanh. Trước đây các quốc gia cạnh tranh chủ yếu bằng ưu đãi thuế, chi phí lao động hay quỹ đất, thì nay các nhà đầu tư quan tâm nhiều hơn đến chất lượng thể chế, tính ổn định và khả năng dự báo chính sách, chất lượng nguồn nhân lực, hạ tầng số, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và năng lực của DN bản địa.
Điều đó cũng lý giải vì sao nhiều quốc gia đang chuyển từ mục tiêu thu hút thật nhiều vốn sang mục tiêu thu hút đúng dòng vốn mà nền kinh tế cần. Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng đó. Trong xu hướng này, Việt Nam cần duy trì được sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư quốc tế, nhưng FDI phải giúp Việt Nam “giàu lên thực sự”.
Hiểu đúng về FDI

Một nền kinh tế có thể tăng trưởng nhanh nhờ xuất khẩu và FDI, nhưng nếu phần lớn giá trị gia tăng, công nghệ, thương hiệu và lợi nhuận vẫn thuộc về bên ngoài thì rất khó bứt phá về năng suất, thu nhập và năng lực cạnh tranh dài hạn. Việt Nam cần một cách tiếp cận thực chất hơn đối với FDI.
Trong chu kỳ tăng trưởng mới, các lĩnh vực như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu, công nghệ số, công nghệ sinh học, năng lượng sạch và các ngành công nghệ chiến lược sẽ quyết định vị thế của các quốc gia trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Chính vì vậy, lựa chọn dòng vốn FDI cần gắn chặt với chiến lược công nghệ quốc gia. Trong quá trình đó, DN tư nhân phải được đặt ở vị trí trung tâm. Không có quốc gia nào có thể trở thành nền kinh tế công nghệ cao nếu không có lực lượng DN nội địa đủ mạnh.
FDI có thể mang đến vốn, công nghệ, thị trường và tiêu chuẩn quản trị tiên tiến. Nhưng sức mạnh nội sinh của nền kinh tế cuối cùng vẫn được quyết định bởi năng lực của DN trong nước. Vì vậy, phát triển khu vực FDI và phát triển DN tư nhân Việt Nam phải là 2 quá trình song hành và hỗ trợ lẫn nhau.
Để làm được điều đó, vai trò của Nhà nước không chỉ dừng lại ở việc cấp phép đầu tư hay ban hành ưu đãi. Quan trọng hơn là kiến tạo môi trường thuận lợi cho phát triển: Đó là cải thiện thể chế, chất lượng môi trường đầu tư kinh doanh, phát triển hạ tầng chiến lược, hạ tầng số và nguồn nhân lực chất lượng cao, hỗ trợ DN nâng cao năng lực quản trị, đổi mới công nghệ, chuyển đổi số và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Bài toán của giai đoạn tới không chỉ đưa Việt Nam là điểm đến của dòng vốn quốc tế, bởi điều đó chúng ta đã khá thành công. Thách thức lớn hơn là biến sự hiện diện của các tập đoàn toàn cầu thành động lực nâng cấp DN Việt Nam, năng lực công nghệ và vị thế của nền kinh tế trong chuỗi giá trị thế giới.
Đó là con đường để Việt Nam không chỉ trở thành điểm đến của các nhà đầu tư toàn cầu, mà còn trở thành một nền kinh tế có khả năng sáng tạo, làm chủ công nghệ và giữ lại nhiều hơn giá trị gia tăng trong chu kỳ phát triển mới của thế giới.
GS. Trần Thọ Đạt, Đại học Kinh tế Quốc dân