Sáng 21/1, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, ông Nguyễn Mạnh Hùng - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, đã trình bày tham luận về các giải pháp đột phá nhằm đưa khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực trung tâm của mô hình tăng trưởng mới, nhanh và bền vững trong kỷ nguyên phát triển dựa trên tri thức và công nghệ số.
Theo Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng, để chuyển từ nhóm quốc gia thu nhập trung bình lên thu nhập cao, Việt Nam không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào các động lực truyền thống như vốn, tài nguyên và lao động giá rẻ.
Con đường khả thi và bền vững là dựa vào khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Ba động lực này đã được Đảng mở rộng nội hàm, tái định nghĩa theo cách tiếp cận mới, qua đó tạo không gian phát triển rộng hơn và khai phóng các nguồn lực tăng trưởng mới. Với cách tiếp cận đúng đắn, Việt Nam có cơ sở để hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn tới.

Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác lập khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính thúc đẩy phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia và nâng cao năng lực tự cường, tự chủ của đất nước.
Nghị quyết này được ví như “Khoán 10” trong lĩnh vực khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, với tinh thần quản lý theo mục tiêu, trao quyền tự chủ cho người thực hiện, chấp nhận rủi ro và đánh giá dựa trên hiệu quả tổng thể.
Theo Bộ trưởng, tinh thần cốt lõi của Nghị quyết 57 là giải phóng sức sáng tạo, tương tự như Khoán 10 trước đây đã giải phóng sức lao động trong nông nghiệp. Từ trạng thái thiếu hụt, Việt Nam hướng tới mục tiêu đủ, thừa và tiến tới xuất khẩu lớn các sản phẩm, giải pháp khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, giống như những gì đã làm được với nông nghiệp.
Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng nhấn mạnh, không có mô hình phát triển chung cho mọi quốc gia. Mỗi nước có bối cảnh lịch sử, trình độ phát triển và điều kiện riêng, do đó việc lựa chọn cách tiếp cận phù hợp để tạo đột phá trong khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số mang ý nghĩa quyết định. Cách tiếp cận của Việt Nam là đặt các lĩnh vực này dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, coi thể chế là lợi thế cạnh tranh, tập trung nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, đóng góp trực tiếp cho tăng trưởng kinh tế và cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân.
Phát triển khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo được đặt trong một hệ sinh thái đầy đủ và cân bằng, bao gồm thể chế, hạ tầng, nguồn nhân lực, Nhà nước, nhà khoa học và doanh nghiệp; chuyển mạnh từ quản lý đầu vào sang quản lý đầu ra; đồng thời gắn khoa học - công nghệ với chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo trong một chỉnh thể thống nhất.
Một trọng tâm quan trọng khác là hướng các động lực này vào giải quyết những bài toán lớn của đất nước như tăng trưởng hai con số, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả quản trị quốc gia.
Việc làm chủ công nghệ lõi, công nghệ chiến lược được xác định là cấu phần quan trọng của chủ quyền quốc gia. Việt Nam cần đi từ ứng dụng, sản phẩm và thị trường tới từng bước làm chủ công nghệ, đồng thời cho phép và khuyến khích thử nghiệm, ứng dụng cái mới trong thực tiễn, coi đây là con đường nhanh và hiệu quả nhất để hình thành và phát triển các công nghệ mới.
Tinh thần đổi mới sáng tạo cần lan tỏa trong toàn xã hội, trở thành lối sống và phong cách làm việc của mỗi người dân và mỗi tổ chức. Việc xây dựng văn hóa khuyến khích khám phá, khoan dung với thất bại được xem là điều kiện quan trọng để đổi mới sáng tạo phát triển bền vững.
Cùng với đó, sở hữu trí tuệ cần được coi là tài sản có thể định giá, mua bán, chuyển giao và khai thác trên thị trường, trở thành công cụ cạnh tranh chiến lược của doanh nghiệp và quốc gia. Theo Bộ trưởng, ở các quốc gia phát triển, tài sản vô hình và tài sản trí tuệ có thể chiếm tới 80% tổng tài sản.

Để khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thực sự trở thành động lực trung tâm của tăng trưởng, nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu là đo lường được mức độ đóng góp của “ba động lực” này vào tăng trưởng GDP. Bộ Khoa học và Công nghệ đang xây dựng phương pháp đo lường ở cả cấp quốc gia và địa phương, với quan điểm “đo được thì mới quản lý được”, đồng thời coi đây là giải pháp căn bản để nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và chống lãng phí.
Trên cơ sở thực tiễn Việt Nam, trong giai đoạn từ nay đến năm 2031, thứ tự ưu tiên được xác định là chuyển đổi số, tiếp đến là đổi mới sáng tạo và khoa học - công nghệ. Trong đó, chuyển đổi số chủ yếu là thay đổi cách thức vận hành và quản trị, chiếm khoảng 70%, còn lại là yếu tố công nghệ; và cần được triển khai ngay trên diện rộng nhờ nền tảng số đã sẵn sàng.
Đối với đổi mới sáng tạo, trọng tâm là hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, thử nghiệm và ứng dụng các công nghệ mới. Bộ Khoa học và Công nghệ đang tham mưu Chính phủ chỉ đạo mỗi bộ, ngành và địa phương hình thành ít nhất một trung tâm đổi mới sáng tạo; đồng thời xây dựng chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo, hướng tới mục tiêu toàn dân khởi nghiệp, mỗi cá nhân có thể khởi sự và vận hành doanh nghiệp với sự hỗ trợ của các nền tảng số quốc gia.
Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng cũng nhấn mạnh yêu cầu nâng cao hiệu quả chi ngân sách cho khoa học - công nghệ theo nguyên tắc một đồng vốn Nhà nước phải kích hoạt được 3 - 4 đồng vốn của doanh nghiệp. Khi đó, 2% chi ngân sách Nhà nước cho khoa học - công nghệ có thể tương đương 2% GDP của toàn xã hội đầu tư cho lĩnh vực này. Bộ Khoa học và Công nghệ đang hoàn thiện cơ chế đồng tài trợ giữa Nhà nước và doanh nghiệp, cũng như cơ chế đặt hàng, mua kết quả nghiên cứu hoặc thưởng cho các sản phẩm nghiên cứu có hiệu quả, thay vì chỉ cấp kinh phí theo cách truyền thống.
Để bảo đảm nuôi dưỡng năng lực nghiên cứu lâu dài, bao gồm nghiên cứu cơ bản và khoa học xã hội, ngân sách Nhà nước sẽ tiếp tục đầu tư cho đầu vào tri thức và chấp nhận rủi ro ở đầu ra, với tỷ lệ dự kiến khoảng 15 - 20% tổng ngân sách khoa học - công nghệ.
Theo Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng, thay đổi tư duy, nhận thức, cách tiếp cận và cách làm là yếu tố quyết định thành công của những chủ trương lớn và mục tiêu cao.
Với tầm nhìn chiến lược của Đảng và khát vọng phát triển mạnh mẽ của dân tộc, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được kỳ vọng sẽ trở thành ba động lực trung tâm, mở đường cho Việt Nam bứt phá, vượt qua bẫy thu nhập trung bình và tiến tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao trong những thập niên tới.
Sơn Nguyễn