(ĐTTCO) - Sau cuộc gặp với Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn ngày 9-4, các ngân hàng đã đồng loạt giảm lãi suất huy động, mức giảm phổ biến khoảng 0,1-0,5%, đặc biệt tại các kỳ hạn 12-24 tháng.
Áp lực thanh khoản đè nặng trong quý II
Tuần qua, trên kênh cầm cố, NHNN chào thầu 59.000 tỷ đồng với các kỳ hạn 7 ngày, 35 ngày và 56 ngày, lãi suất duy trì ở mức 4,5%. Có gần 57.800 tỷ đồng trúng thầu và có hơn 129.000 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố. NHNN không chào thầu tín phiếu NHNN.
Như vậy, tuần qua, NHNN đã hút ròng gần 72.000 tỷ đồng từ thị trường qua kênh thị trường mở (OMO).
Báo cáo phân tích của Công ty chứng khoán Vietcombank (VCBS), cho thấy vẫn tồn tại áp lực huy động vốn lên hệ thống ngân hàng. Do đó nhiều khả năng lãi suất huy động chỉ đi ngang như hiện nay, khó có khả năng giảm thêm.
Theo VCBS, những nguyên nhân tác động bao gồm: nhu cầu vốn trung và dài hạn gia tăng mạnh khi nhiều dự án hạ tầng quy mô lớn được triển khai; tăng trưởng tín dụng đã và đang cao hơn tăng trưởng huy động trong thời gian dài, khiến tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR) duy trì ở mức cao; áp lực tỷ giá gia tăng trong bối cảnh rủi ro địa chính trị leo thang và Fed trì hoãn nới lỏng...

Theo nhận định của VCBS, lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn ngắn có thể ổn định hơn trong ngắn hạn khi áp lực cuối quý dần hạ nhiệt và NHNN được kỳ vọng sẽ tiếp tục điều hành thanh khoản theo hướng linh hoạt và đều đặn hơn thông qua kênh OMO, góp phần hạn chế biến động giật cục như giai đoạn trước.
Tuy vậy, chuyên gia phân tích cũng cho rằng tác động hỗ trợ từ kênh OMO chủ yếu chỉ mang tính điều tiết tạm thời, giải quyết vấn đề ngắn hạn, do vấn đề cốt lõi vẫn nằm ở cấu trúc nguồn vốn của một số ngân hàng khi nhu cầu vốn trung và dài hạn tiếp tục gia tăng trong khi nguồn vốn huy động vẫn chủ yếu ngắn hạn.
Bước sang quý II, thanh khoản hệ thống dự kiến tiếp tục chịu áp lực trong bối cảnh nhu cầu giải ngân tăng mạnh, định hướng giảm lãi suất huy động có thể làm chậm tốc độ cải thiện nguồn vốn đầu vào tại một số ngân hàng, đặc biệt là nhóm quy mô vừa và nhỏ hoặc có tăng trưởng tín dụng cao.
Bên cạnh đó, khối lượng OMO đáo hạn trong tháng 4 vẫn ở mức lớn. Trên cơ sở đó, VCBS cho rằng thanh khoản dự kiến kém dồi dào, liên ngân hàng sẽ tiếp tục neo ở mức tương đối cao trong thời gian tới, đặc biệt tại các kỳ hạn trung và dài hạn.
Xem xét nới lỏng cách tính LDR
Cũng tại cuộc gặp giữa lãnh đạo NHNN với các ngân hàng thương mại vào ngày 9-4, các bên đã thảo luận về việc tăng tính linh hoạt cho quy định về LDR để hạ nhiệt thị trường.
Các hướng nới lỏng đang được cân nhắc bao gồm xem xét sửa đổi/gia hạn lộ trình tại Thông tư số 26 sửa đổi Thông tư số 22, trong đó cho phép duy trì việc tính một phần tiền gửi Kho bạc Nhà nước (ví dụ duy trì ở mức 20% như năm 2025) thêm một thời gian nữa thay vì cắt bỏ hoàn toàn về 0%.
Bên cạnh đó, xem xét điều chỉnh kỹ thuật trong công thức tính LDR. Một số TCTD đề nghị NHNN xem xét mở rộng các cấu phần được tính vào “huy động”. Ví dụ như các khoản vay dài hạn từ các định chế tài chính quốc tế hoặc các chứng chỉ tiền gửi dài hạn với tỷ lệ cao hơn để giảm áp lực huy động dân cư.
Đồng thời, xem xét tăng hạn mức LDR. Một vài ý kiến từ phía các ngân hàng cổ phần cho rằng trong bối cảnh thanh khoản hệ thống có áp lực cục bộ, NHNN có thể xem xét nới trần LDR từ 85% lên cao hơn (ví dụ 87-90%) cho những ngân hàng có chỉ số an toàn vốn (CAR) tốt.
Thực tế, từ đầu năm nay, quy định trên khiến tỷ lệ LDR tại các ngân hàng quốc doanh tăng cao, chủ yếu là nhóm “Big 4”. Để kéo LDR về mức an toàn (dưới 85%), các ngân hàng này đã phải chạy đua tăng lãi suất huy động từ dân cư, phần nào khiến cuộc đua lãi suất trở nên nóng hơn.
Nếu việc nới lỏng quy định về tỷ lệ khấu trừ tiền gửi KBNN được thông qua sẽ góp phần giảm áp lực tăng lãi suất tại nhóm này, đồng thời đóng vai trò mỏ neo cho hệ thống, định hướng điều chỉnh mặt bằng lãi suất ổn định hơn.
Theo các chuyên gia phân tích Công ty Chứng khoán KB Việt Nam, nếu việc nới lỏng cách tính LDR trên được thực hiện, áp lực tăng lãi suất trên thị trường 1 (thị trường dân cư) sẽ giảm đáng kể. Bởi nhóm ngân hàng được hưởng lợi nhiều nhất nếu quy định trên được nới lỏng là nhóm ngân hàng quốc doanh.
Áp lực tỷ giá gia tăng
Theo các chuyên gia, có nhiều yếu tố hỗ trợ đồng USD tăng giá trong quý II như môi trường bất định địa chính trị gia tăng; Fed có khả năng không hạ lãi suất; giá dầu thế giới tiếp tục neo ở ngưỡng cao; giá vàng trong nước vẫn giao dịch cao hơn giá vàng thế giới khoảng 20%, khiến cho nhu cầu USD trong nước tiếp tục ở ngưỡng cao.
Do đó, bước sang quý II, tỷ giá được dự báo vẫn tiếp tục chịu áp lực từ thị trường quốc tế. VND được dự báo giảm giá tương đối so với đồng USD với mức biến động hợp lý khoảng 3-5% cho cả năm 2026.
Lưu Thủy